đặt vấn đề với nhóm nghiên cứu của Pasteur. Công việc kinh doanh của ông là sản xuất alcohol bằng lên men mật rỉ đường và sản lượng alcohol gần đây bị giảm và sản phẩm bị chua. Pasteur đã phát hiện ra rằng quá trình lên men bị thất bại bởi vì bình thường nấm men chịu trách nhiệm sản xuất alcohol bị thay thế bởi nhóm vi khuẩn lactic. Trong quá trình giải quyết vấn đề này, Pasteur đã chứng minh rằng tất cả các quá trình lên men đầu do hoạt động của nấm men và vi khuẩn chuyên biệt và ông đã xuất bản nhiều bài báo về lên men trong khoảng năm 1857 và 1860.
Thành công của ông dẫn đến một nghiên cứu về sự hư hỏng của rượu vang và phát triển kỹ thuật thanh trùng để bảo quản rượu. Các nghiên cứu của Pasteur trong lĩnh vực lên men được thực hiện trong suốt 20 năm. Một trong những phát hiện quan trọng nhất của ông là một số vi khuẩn lên men là ky khí tức là chỉ sống được trong điều kiện không có sự hiện diện của oxy, trong khi đó một số khác sống được cả trong điều kiện hiếu khí hoặc ky khí (ky khí tùy nghỉ). Một vài nhà vi sinh vật học đầu tiên đã tiến hành nghiên cứu về vai trò sinh thái của vi sinh vật.
Họ nghiên cứu về mối liên quan của vi sinh vật trong chu trình carbon, nitrogen, sulfur trong đất và nước. Hai trong số những người tiên phong trong nghiên cứu này là Sergei N. Winogradsky (1856 - 1953) và Martinus W. Nhà vi sinh vật học người Nga Sergei N.
Winogradsky thực hiện nhiều nghiên cứu về hệ vi sinh vật đất. Ông đã khám phá ra rằng vi sinh vật đất có thể oxy hóa sắt, lưu huỳnh và ammonia để thu năng lượng và nhiều vi khuẩn có thể cố định CO; thành các vật chất hữu cơ giống như thực vật. Winogradsky cũng phân lập được vi khuẩn đất cố định nitrogen ky khí và nghiên cứu về sự phân hủy cellulose. Beijerinck là một trong những nhà vi sinh học nghiên cứu cơ bản nổi tiếng nhất trong lĩnh vực sinh thái vi sinh vật và nhiều lĩnh vực khác.
Ông đã phân lập được vi khuẩn cố định nitrogen hiếu khí Azotobacter; vi khuẩn cố định nitrogen cộng sinh trên rễ cây họ Đậu (Rhizobium) và vì khuẩn khử sulfate. Beijerinck và Winogradsky đã phát triển kỹ thuật tăng sinh vi sinh vật và sử dụng môi trường chọn lọc để phân lập vi sinh vật. TONG QUAN VE VI SINH VAT HOC 1.6 TƯƠNG LAI CỦA NGÀNH VI SINH VẬT HỌC Những nghiên cứu trước đó đã chứng minh rằng vi sinh vật học có ảnh hưởng rất sâu sắc đến xã hội. Vậy tương lai đó là gì? Nhà khoa học Bernard Dixon rất lạc quan về tương lai của ngành vi sinh vật học bởi 2 lý do.
Đầu tiên, ngành vi sinh vật học có một nhiệm vụ rõ ràng hơn so với các môn khoa học khác. Thứ hai, sự tin tưởng vào giá trị thực tiễn. Dixon lưu ý rằng ngành vi sinh vật học không chỉ đối mặt với việc xử lý các bệnh truyền nhiễm ở người mà còn để phát triển các kỹ thuật công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả và thân thiện với môi trường. Một số ngành hứa hẹn đối với nghiên cứu vi sinh vật học trong tương lai và ảnh hưởng thực tế của chúng là gì? Các nhà vi sinh vật học phải đối mặt với những thử thách gì? Một số vấn đề mà ngành vi sinh vật sẽ giải quyết trong tưởng lai: (1) Các bệnh truyền nhiễm mới tiếp tục xuất hiện và các bệnh cũ sẽ lan rộng và mang tính hủy diệt cao.
AIDS, sốt xuất huyết, bệnh lao là một trong những bệnh truyền nhiễm. (2) Các nhà vi sinh vật phải tìm ra phương pháp để ngăn chặn sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm. Sự gia tăng các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh cũng là một vấn đề đáng quan tâm vì dễ làm phát tán những chủng vi khuẩn đa kháng thuốc. Các nhà vi sinh vật học phải tạo ra các loại thuốc mới và tìm ra cách để làm chậm hoặc ngăn chặn tình trạng kháng thuốc.
Phát triển các loại vaccine mới để bảo vệ cơ thể chống lại bệnh như AIDS. Việc sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử và DNA tái tổ hợp cũng rất cần thiết để giải quyết các vấn đề này. (3) Các nghiên cứu cần kết hợp giữa các tác nhân gây nhiễm và các bệnh mãn tính như khả năng tự miễn dịch và bệnh tim mạch. (4) Hiện nay chúng ta mới bắt đầu hiểu được cơ chế tương tác giữa vi sinh vật gây bệnh và vật chủ nên cần phải nghiên cứu sâu hơn về chơ chế này đồng thời xác định cách thức vật chủ chống lại sự xâm nhiễm từ bên ngoài.
(5) Vi sinh vật ngày càng quan trọng trong kiểm soát môi trường và công nghiệp nên chúng ta phải nghiên cứu cách thức sử dụng chúng khác nhau. (6) Tính đa dạng của vi sinh vật là một lĩnh vực đòi hỏi cần phải tập trung nghiên cứu. (7) Công đồng vi sinh vật thường sống trong biofilm và biofilm này cực kỳ quan trọng trong cả y học lẫn sinh thái vi sinh vật. Nghiên cứu về biofilm được thực hiện ở giai đoạn đầu tiên và phải mất rất nhiều thời gian.
Cần nghiên cứu về mối tương tác giữa vi khuẩn với vi khuẩn (8) Genome của nhiều loại vi sinh vật đã được xác định trình tự và một số khác sẽ được xác định trong tương lai. Việc xác định genome và hoạt động của chúng cần cho lĩnh vực sinh tin học (bioinformatics) và sử dụng máy tính để đánh giá các vấn đề sinh học. TỔNG QUAN VỀ VI SINH VẬT HỌC | 9 | (9) Các nghiên cứu sâu hơn về các vi sinh vật bất thường và sinh thai vi sinh vat sé giúp hiểu sâu hơn về sự tương tác giữa vi sinh vật và thế giới. Đồng thời, hiểu về mỗi quan hệ giữa vi sinh vật với sinh vật bậc cao trong mối quan hệ cộng sinh nâng cao đánh giá của chúng ta với thế giới sống nhằm cải thiện sức khỏe cây trồng, vật nuôi và con người.
(10) Bởi vì đặc điểm đơn giản của vi sinh vật nên chúng dễ dàng là đối tượng cho các nghiên cứu cơ bản. (11) Cuối cùng, các nhà vi sinh vật học bị thử thách bởi các khám phá mới và sự phát triển của các kỹ thuật mới. Từ đó, họ sẽ dung hòa giữa các yếu tố có lợi và có hại trong xã hội. TÓM TẮT Trong bài này học viên làm quen với các khái niệm cơ bản về vi sinh vật học bao gồm các vấn đề: 1.
Khái niệm vi sinh vật học và các nhóm vi sinh vật bao gồm: virus, vi khuẩn, ví nấm, tảo và ký sính trùng. Lịch sử phát triển ngành vi sinh vật học - Antony van Leeuwenhoek là người đầu tiên mô tả ví sính vật 3. Phá vỡ thuyết tự sinh -_ Thuyết tự sinh 6 vi sinh vat bi phá bỏ bởi các thí nghiệm cua Spallazani, Pasteur va các nhà khao học khác. Sự phát triển của vi sinh vật công nghiệp và sinh thái ví sinh vật -_ Pasteur chứng minh rằng sự lên men do vi sinh vật gây ra và một số ví sinh vật sống mà không cần có oxy.
- _ Robert Koch đã chứng minh bệnh là do vi sinh vật gây ra. nm ? A nm CAU HOI ON TAP Cau 1: Vi sinh vat hoc là gì? Gồm có các nhóm nào? Câu 2: Mô tả thí nghiệm phá vỡ thuyết tự sinh của Pasteur Câu 3: Mô tả thí nghiệm chứng minh mối quan hệ giữa mầm bệnh và vi sinh vật Câu 4: Tương lai của ngành vi sinh vật học ry BÀI 2. CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CUA TE BAO PROKARYOTE BÀI 2. CẤU TRÚC VÀ CHỨC NANG CUA TE BAO PROKARYOTE Sau khi học xong bài này, hoc viên có thể nắm được: - _ Tổng quát về cấu trúc và chức năng của tế bào prokaryote - Cấu trúc và chức năng chi tiết của các bào quan bên trong tế bào như màng nguyên sinh chất, vùng nhân, plasmid, vách tế bào, tiên mao, bào tử.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TẾ BÀO PROKARYOTE 2.1 Kích cỡ, hình dạng và sự sắp xếp Về hình dạng, hầu hết các vi sinh vật có một trong hai dạng chủ yếu.
© OO coccus diplococcus -_ Câukhuẩn (Cocci - số nhiều là coccus) là các vi sinh vật có dạng hình cầu thô ráp, chúng không «99900 $3 những tồn tại ở dạng tế bào đơn ma còn liên kết streptococcus tetrad với nhau tạo thành các dạng khác nhau. Song câu khuẩn (Diplococci - số nhiều là diplococcus) hình thành khi cocci phân chia và SF sarcina dính lại với với nhau. Khi tế bào dính lại sau qua ` ˆ. wan ˆ a v staphylococcus trình phân chia lặp lại nhiều lần trên một mặt phẳng sẽ hình thành nên dạng liên cầu khuẩn Hình 2.1: Sự sắp xếp của vi khuẩn hình câu (cocci) BÀI 2.
CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA TẾ BÀO PROKARYOTE te (Streptococcus, Enterococcus, Lactococcus). Khi té bao phân chia trân các mặt phẳng ngẫu nhiên để hình thành nên các cụm tế bào bất định giống như chùm nho được gọi là tụ cầu khuẩn(Staphylococcus). Sự phân chia trên hai hay ba mặt phẳng có thể hình thành các cụm cầu khuẩn đối xứng. Vi khuẩn thuộc chỉ Micrococcus thường phân chia trên 2 mặt phẳng để hình thành nên một nhóm tế bào hình vuông được gọi là tetrad.
Trong chi Sarcina, cầu khuẩn phân chia trên 3 mặt phẳng hình thành nên một khối lập phương 8 mặt. - Truc khuẩn (bacillus- số nhiều bacilli) là các vi sinh vật có dạng hình que. Các vi khuẩn hình que thường khác nhau đáng kể ở tỷ lệ chiều dài và chiều rộng, điển hình là nhóm vi khuẩn coccobacilli thường ngắn và rộng nên thường nhầm lẫn chúng là cầu khuẩn. Hình dạng các đầu của trực khuẩn thường khác nhau giữa các loài và có thể là dạng phẳng, dạng tròn, dạng điếu xì gà hoặc dạng chẻ đôi.
Mặc dù nhiều loại trực khuẩn đứng riêng lẻ nhưng một số loài có thể dính với nhau sau quá trình phân chia hình thành nên các cặp hoặc chuỗi. Một số loài vi khuẩn hình que như nhóm vibrios, có dạng cong tạo nên hình dấu phẩy đặc trưng hoặc dạng xoắn ốc không hoàn chỉnh.2: Một số dạng vi khuẩn hình que. (A) Bacillus megaterium; (B) Bacillus anthracis; (C) Vibrio spp- Vi khuẩn được lầm tưởng có rất nhiều hình dạng khác nhau, mặc dù đa phần chúng chỉ có hình cầu hoặc hình que. Nhóm xạ khuẩn (actinomycete) hình thành nên hệ sợi nấm đa nhân có khả năng phân nhánh để tạo ra một mạng lưới gọi là hệ sợi nấm (mycelium).
Nhiều loại vi khuẩn giống như vi khuẩn hình que dài xoắn lại được gọi là xoắn khuẩn (spirilla).