CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây tiêu lốt, Piper Longum 1. Nguồn gốc và phân bố Piper longum (Piperaceae) được tìm thấy đầu tiên trong tài liệu liệu tham khảo là sách giáo khoa Ayurveda cổ đại của Ấn Độ.
Nó được biết đến ở Hy Lạp cổ điển vào khoảng năm 400 trước Công nguyên và được đề cập đến bởi Hippocrates, mặc dù Hippocrates coi nó như một loại thuốc chữa bệnh hơn là một loại gia vị. Trong số những người Hy Lạp và La Mã, và trước khi người Châu Âu khám phá Châu Mỹ, hạt tiêu dài là một loại gia vị quan trọng và nổi tiếng được nhập khẩu từ đông bắc Ấn Độ [68]. Piper longum thường được gọi là “tiêu dài” hoặc “Pippali” mọc thành cây bụi lâu năm hoặc thân thảo, dây leo, phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, bao gồm tiểu lục địa Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Đông và Châu Mỹ [31]. Tại Việt Nam, tiêu lốt được du nhập vào nước ta từ rất lâu, được trồng phổ biến tại các tỉnh vùng cao nguyên trên toàn quốc như Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Thanh Hoá, Nghệ An…, các vùng ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh như Gò Vấp, Thủ Đức hay các tỉnh vùng cao nguyên như Chư Sê, Gia Lai.
Tuy nhiên, cho đến nay tiêu lốt cũng ít được sử dụng nên việc trồng trọt không được phổ biến. Mô tả thực vật Tiêu lốt là cây thân thảo lâu năm, phần gốc mọc bò. Thân cành mang hoa, thẳng đứng và nhẵn, có thể cao từ 2 – 4 m. Lá tiêu lốt mọc so le, có cuống ngắn.
Phiến lá hình trứng, thuôn dài, dài khoảng 6 – 7,5 cm, rộng 3- 5 cm. Mặt trên của lá láng, mặt dưới có lông mịn và màu nhạt hơn phần mặt trên. Hoa đơn tính, mọc thành từng cụm. Hoa đực dài khoảng 3,5 cm, có trục nhẵn, lá bắc tròn, có 2 nhị.
Hoa cái ngắn hơn, khoảng 1,5 cm, có cuống ngắn. Cụm quả hình trụ, hơi cong, do nhiều quả mọng nhỏ tập hợp tạo thành, dài 1,5 – 3,5 cm, đường kính 0,3 – 0,5 cm, mặt ngoài màu đen hoặc nâu. Gốc cụm quả có cuống còn sót lại hay vết của cuống đã rụng. Quả mọng nhỏ, hình cầu, có mùi thơm, vị hăng cay.
Hạt tròn hay gần như tròn cỡ 2 – 2,25 mm. Cây ưa ẩm, chịu bóng, thường mọc rải rác, đôi khi tạo thành từng đám dưới tán rừng núi ở hai bên bờ khe suối và ven rừng núi đá vôi ẩm. Tiêu lốt có bộ phận thân rễ phát triển, bò lan đến đâu ra rễ đến đó, phần thân mang lá vươn cao, phân nhánh khoẻ và ra hoa quả nhiều hơn SV: Nguyễn Thị Thu Hòa GVHD: TS. Đỗ Thị Thúy Vân 13 loài lá lốt.
Cây nhân giống tự nhiên bằng hạt, tái sinh khoẻ sau khi cắt, trồng được bằng giâm cành [5]. Hình ảnh cây tiêu lốt 1. Hình dạng ngoài Quả tiêu dài (Piper longum) có hình dạng thon dài, nhỏ hơn so với quả tiêu đen thông thường. Khi chín, quả có màu đen, có chiều dài khoảng từ 2-3cm, đường kính khoảng từ 2-3mm.
Quả có hình dạng hơi cong, trông giống như một cây sáo nhỏ. Bề mặt của quả có rãnh dọc và những hạt mịn nhỏ. Khi được sấy khô, quả tiêu dài sẽ co lại và trở nên cứng hơn, nhưng vẫn giữ được hình dạng ban đầu. Quả tiêu lốt tươi Hình 1.
Quả tiêu lốt sấy khô SV: Nguyễn Thị Thu Hòa GVHD: TS. Đỗ Thị Thúy Vân 14 1. Tên gọi Tên thường gọi: Tiêu lốt, tiêu dài, tiêu hoa tím [1]. Tên gọi khác: Tiêu đen dài, tiêu thanh,… Tên nước ngoài: Long pepper (Tiếng Anh); Pippali, Pipramul, Magadhi, Mippali (Ấn Độ); Cháoxiāng (草香) (Trung Quốc);… Và một số tên gọi khác tuỳ theo khu vực và ngôn ngữ [69].
Phân loại khoa học Giới : Plantae Ngành : Magnoliophyta Lớp : Magnoliopsida Phân lớp : Magnoliidae Bộ : Piperales Họ : Piperaceae Chi : Piper Loài :Piper longum. Thành phần hoá học chính [31] Quả chứa một số lượng lớn các alkaloid và các hợp chất liên quan, trong đó nhiều nhất là piperine, tiếp theo là methyl piperine, pipernonaline, piperettine, asarinine, pellitorine, piperundecalidine, piperlongumine, piperlonguminine, retrofractamide A, pergumidiene, brachystamide-B, một dimer của desmethoxypiplartine, N-isobutyl decadienamide, brachyamide-A, brachystine, pipercide, piperderidine, longamide, dehydropipernaline piperidine và tetrahydro piperine. Piperine, piperlongumine, tetrahydropiperlongumine, trimethoxy cinnamoyl-piperidin và piperlonguminine đã được tìm thấy trong rễ. Các thành phần hóa học mới được xác định là 1-(3′,4′- methylenedioxyphenyl)-1E-tetradecene, 3-(3′,4′-methylenedioxophenyl)-propenal, axit piperoic, 3′,4′-di-hydroxy-biabola- 1, 10-diene, eudesm-4(15)-ene-1beta, 6- α -diol, 7- SV: Nguyễn Thị Thu Hòa GVHD: TS.
Đỗ Thị Thúy Vân 15 epi-eudesm-4(15)-ene-1beta, 6 β -diol, guineesine và 2E,4E-dienamide , (2E, 4E, 8E)- N-isobutylhenicosa-2,4,8-trienamit. Một số alkaloid và amide phân lập từ quả Piper longum STT Tên hợp chất Cấu trúc hóa học 1 Piperin 2 Piperundecalidin 3 Pipernonalin 4 Piperlongumin 5 Dihydropiperlongumin 6 Pipercid 7 Guineensin (2E,4E)-N-isobutyl- 8 otadeca-2,4-dienamid (2E,4E)-N-isobutyl- 9 eicosa-2,4-dienamid SV: Nguyễn Thị Thu Hòa GVHD: TS. Đỗ Thị Thúy Vân 16 (2E,4E,8Z)-N- 10 isobutyl-eicosa-2,4,8- trienamid 11 Pregumidien 12 Brachystamid B 13 Piperderdin Bảng 1. Cấu trúc một số lignan chính trong Piper longum STT Tên hợp chất Cấu trúc hóa học 1 Sesamin 2 Fargesin 3 Pluviatilol SV: Nguyễn Thị Thu Hòa GVHD: TS.
Đỗ Thị Thúy Vân 17 Bảng 1. Cấu trúc một số ester trong Piper longum STT Tên hợp chất Cấu trúc hóa học Z-12- 1 octadecenoicglycerol- monoester Eicosanyl-(E)-p- 2 coumarate Tridecyl-dihydro-p- 3 coumarate 1. Giới thiệu tinh dầu quả tiêu lốt 1. Giới thiệu chung Tinh dầu quả tiêu lốt (Piper longum) được chiết xuất từ quả của cây tiêu lốt.
Tinh dầu này có mùi thơm đặc trưng, cay nồng và có tác dụng kháng khuẩn, giảm đau, giảm viêm và kích thích tiêu hóa. Nó được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền Ấn Độ và Trung Quốc để điều trị các vấn đề về tiêu hóa, đau đầu, đau bụng, đau khớp và các vấn đề về hô hấp. Tinh dầu quả tiêu dài cũng được sử dụng trong các sản phẩm mỹ phẩm và làm thực phẩm gia vị. Tinh dầu của quả là một hỗn hợp phức tạp.
Ngoại trừ piperine dễ bay hơi, ba thành phần chính là caryophyllene, pentadecane (cả hai đều chiếm khoảng 17,8%) và bisaboline (11%). Những loại khác bao gồm thujone, terpinolene, zingiberene, p- cymene, p-methoxyacetophenone, dihydrocarveol, và vitamin A và E. Trong bài luận văn này sẽ được phân tích thêm về thành phần của tinh dầu quả tiêu lốt. Tác dụng chống ung thư Theo nghiên cứu của CR Pradeep và G Kuttan hay của Bezerra và cộng sự về tác dụng của piperine trong việc ức chế di căn phổi gây ra tế bào u ác tính B16F/10 ở chuột SV: Nguyễn Thị Thu Hòa GVHD: TS.
Đỗ Thị Thúy Vân 18 đã chỉ ra rằng hoạt tính chống di căn của piperine, một loại chất kiềm có trong thực vật như Piper longum, đã làm giảm đáng kể trọng lượng khối u [45]. Một nghiên cứu khác đã chứng minh hoạt động chống ung thư của piperine có liên quan đến các đặc tính điều hòa miễn dịch của nó liên quan đến việc kích hoạt các phản ứng miễn dịch tế bào và dịch thể. Các đặc tính chống khối u của piperine đánh dấu nó như một ứng cử viên tiềm năng cho liệu pháp điều trị ung thư trong tương lai [55]. Hoạt động chống oxy hoá Piper longum thể hiện tiềm năng chống oxy hóa đầy hứa hẹn chống lại tổn thương oxy hóa do gốc tự do gây ra.
Chiết xuất ete dầu mỏ của rễ và piperine từ rễ của Piper longum. Giảm nồng độ peroxide lipid và duy trì hàm lượng glutathione, thể hiện hoạt tính chống oxy hóa [47]. Hoạt động bảo vệ tim mạch Chauhan đã quan sát tác dụng bảo vệ tim mạch của chiết xuất Piper longum (MePl) trong metanol trong mô hình chuột bị nhồi máu cơ tim cấp tính do Isoproterenol gây ra. Chiết xuất MePl được sử dụng ở dạng thô và có khả năng chứa các hợp chất như alkaloid và amit, lignan, este và dầu dễ bay hơi.
Họ đề xuất rằng MePl ngăn ngừa đáng kể thiệt hại do isoproterenol gây ra đối với những thay đổi mô bệnh học và sinh hóa trong mô hình chuột bị nhồi máu cơ tim [10]. Trong một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng tác dụng của chiết xuất metanol của quả Piper longum được đánh giá đối với độc tính trên tim do adriamycin gây ra (nghĩa là thay đổi sinh hóa, tổn thương peroxid hóa mô và mức độ chống oxy hóa bất thường) ở chuột Wistar. Các nghiên cứu mô bệnh học của tim cho thấy những thay đổi thoái hóa và thâm nhiễm tế bào ở chuột được điều trị bằng adriamycin; tuy nhiên, tiền xử lý với Piper longum làm giảm cường độ của những tổn thương này. Kết quả chỉ ra rằng Piper longum cung cấp sự bảo vệ đáng kể chống lại stress oxy hóa do adriamycin gây ra và giảm độc tính cho tim nhờ hoạt động chống oxy hóa của nó [64].
Hoạt tính bảo vệ gan Gurumurthy đã thử nghiệm với chiết xuất nước từ trái cây của Piper longum và piperine được chọn để nghiên cứu tiềm năng bảo vệ gan của chúng khi được sử dụng với liều thuốc kháng lao bình thường. Piper longum và piperine khi được sử dụng với SV: Nguyễn Thị Thu Hòa GVHD: TS. Đỗ Thị Thúy Vân 19 các loại thuốc kháng TB đã làm giảm tỷ lệ peroxit hóa lipid và tăng mức glutathione giảm đi, do đó thể hiện hiệu ứng bảo vệ gan [19]. Chiết xuất trái cây của cây được đánh giá trên chuột để xác định tác dụng bảo vệ gan chống lại tổn thương cấp tính, mạn tính đảo ngược và không đảo ngược gây ra bởi tetrachlorua cacbon bằng cách sử dụng các tham số hình thái học, sinh hóa học và mô bệnh học.
Chiết xuất kích thích sự tái tạo bằng cách hạn chế sự xơ hóa, nhưng không cung cấp bảo vệ nào chống lại tổn thương cấp tính hoặc xơ gan. Piperine đã được phát hiện là có tác dụng bảo vệ gan chống lại độc tính gan do tertiary butyl hydroperoxide và tetrachlorua cacbon gây ra bằng cách giảm sự peroxit hóa lipid trong vitro và vivo [29] [13]. Hoạt tính chống viêm Đã có báo cáo về hoạt tính chống viêm đáng kể của thuốc sắc của trái Piper longum sử dụng trong trường hợp đau rát chân của chuột do carrageenan gây ra [30]. Yende nghiên cứu tác dụng chống viêm khớp của Piper longum trong việc gây viêm khớp bằng CFA (Complete Freund's adjuvant) trên chuột, trong đó họ đã chỉ ra rằng chiết xuất nước từ Piper longum có khả năng giảm đáng kể sưng tay chân có thể được quy cho hoạt động điều chế miễn dịch của piperine [66].
Điều hòa miễn dịch Hoạt động kích thích miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu của tiêu lốt đã được đánh giá bằng chỉ số khả năng kết hợp hồng cầu, chỉ số di chuyển của vi khuẩn trong bạch cầu và chỉ số nuốt tế bào ở chuột.