Đặt vấn đề Cây hoa Lan Huệ (Hippeastrum sp.) hay còn gọi là hoa Tứ Diện, Mạc Chu Lan hay Loa Kèn Đỏ, là loại cây có khả năng chịu nhiệt tốt nên được trồng phổ biến tại các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Nhiều loài thuộc chi Hippeastrum được ứng dụng trồng làm cảnh quan bởi chúng có ưu điểm là hoa to, đẹp, khá đa dạng về màu sắc, có thể sử dụng dưới dạng hoa cắt cành, trồng chậu hoặc trồng thảm thiết kế cảnh quan. Lan Huệ có thể được điều khiển ra hoa sớm để trồng chậu hoặc làm hoa cắt cành trong các dịp lễ, Tết, là món quà ý nghĩa tặng người thân, bạn bè. Hiện nay, hoa Lan Huệ đang được nhiều người ưa chuộng bởi màu sắc sặc sỡ, đa dạng như trắng hồng, hồng phấn, đỏ, cam, đỏ trắng, hồng trắng, hồng đỏ…, đặc biệt những loài/ giống Lan Huệ có hương thơm nhẹ nhàng luôn là điểm nhấn trong lòng khách hàng.
Bên cạnh đó, Lan Huệ còn có thể sử dụng để chữa các bệnh như cầm máu, sưng, nhiễm trùng…Chính vì vậy đây là loại hoa rất có triển vọng cho sản xuất hoa thương mại trong nước. Lan Huệ là cây có thể chịu chế độ khắc nghiệt về dinh dưỡng và ánh sáng. Chúng có thể sống được ở nơi thiếu ánh sáng hoặc nhiều ánh sáng, đất tốt hoặc đất cằn, nơi khô hạn hay nơi đủ ẩm. Do đó, Lan Huệ là loại cây rất thích hợp sử dụng trong trang trí cảnh quan.
Hiện nay, lĩnh vực thiết kế cảnh quan trên thế giới cũng như ở Việt Nam ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng các giống mới phù hợp với khí hậu, đa dạng về chủng loại, kích thước, màu sắc để trồng thảm, trồng viền, trồng chậu,… rất cao. Việc đưa Lan Huệ vào trang trí cảnh quan không chỉ giúp làm đẹp khuôn viên trang trí, làm tăng thêm vẻ đẹp kiến trúc của công trình mà còn tạo không gian xanh mát, cải thiện chất lượng không khí và giúp con người thư giãn tinh thần. Vì vậy, việc điều tra tình hình sử dụng hoa Lan Huệ trong trang trí cảnh quan rất có ý nghĩa nhằm xác định nhu cầu, mục đích, chủng loại và nhu cầu giống đặc biệt trong thời gian tới khi nhu cầu trang 1 trí tăng cao. Đây cũng là cơ sở để lựa chọn ra những dòng Lan Huệ có đặc điểm phù hợp.
Từ năm 2012 đến năm nay, Bộ môn Rau Hoa Quả, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã lai tạo thành công một số tổ hợp lai Lan Huệ và bước đầu đã chọn ra một số dòng lai có triển vọng dựa trên các đặc điểm hoa, màu sắc hoa, dạng cánh hoa,.v…để phát triển đa dạng các dòng lai hơn nữa thì việc tiếp tục đánh giá đặc điểm hoa là rất cần thiết nhằm xác định các dòng Lan Huệ cho hoa đẹp, mới lạ, độc đáo đưa vào sản xuất, tiêu thụ đồng thời tạo ra sự đa dạng hơn về số lượng giống Lan Huệ ở Việt Nam. Xuất phát từ những thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra tình hình sử dụng Lan Huệ trong trang trí cảnh quan và đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số dòng Lan Huệ có triển vọng. Mục đích và yêu cầu. Điều tra, phân tích được tình sử dụng Lan Huệ, đặc biệt là các giống Lan Huệ mới trong trang trí cảnh quan và đánh giá được các tính trạng tốt của một số dòng Lan Huệ lai có triển vọng phát triển ra sản xuất.
- Điều tra 5 quận/huyện khu vực Hà Nội và vùng lân cận về tình hình sử dụng hoa Lan Huệ trong trang trí cảnh quan. - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các dòng Lan Huệ có triển vọng. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về chi Hippeastrum.
Vị trí phân loại, nguồn gốc và phân bố. Cây hoa Lan Huệ có tên khoa học là Hippeastrum sp., thuộc lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida) phân lớp hành (lilidae), bộ hành (liliales), họ hành (liliaceae), chi (Hippeastrum) (Nguyễn Tiến Bân, 1997). Chi này có khoảng 90 loài và hơn 600 dạng lai đa dạng về kích thước, hình dạng và màu sắc hoa vô cùng đa dạng. Ở nước ta theo thực vật chí Việt Nam đã công bố về chi Lan Huệ thì hiện chỉ có 2 loài đó là loài Hippeastrum equestre (Lan Huệ hay Loa kèn đỏ) và loài Hippeastrum reticulatum (Lan Huệ mạng) (Nguyễn Thị Đỏ, 2007).
Tuy nhiên, tính đến tháng 11 năm 2013, WCSP (World Checklist of Selected Plant Families) đã chấp nhận Hippeastrum có 91 loài (Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014). Cây hoa Lan Huệ có nguồn gốc từ Nam Mỹ (Merrow, 1998; Traub, 1949). Đây là loài cây có khả năng chịu nhiệt tốt nên được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (dẫn theo Phạm Thị Minh Phượng & cs, 2014). Năm 1928, Eduard Frederick Poepping đã tìm thấy hoa Lan Huệ đầu tiên trong quá trình tìm kiếm ở Chilê.
Quá trình nhân giống và lai tạo được diễn ra trong suốt thế kỷ 18 và sau đó loài hoa này được chú ý đến ở Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ 19. Năm 1946, Lan Huệ được trồng trọt ở Nam Phi. Hầu hết các cây hoa trong chi Hippeastrum đều xuất phát từ Hà Lan và Nam Phi nhưng ngày nay chúng lại rất phát triển ở Anh, Nhật Bản, Isarel, Ấn Độ, Bzazil và Austrlia (Kathie Carter, 2007). Ở Việt Nam, các loài thuộc chi Hippeastrum (còn được gọi là Loa kèn đỏ, Mạc Chu Lan, Tứ Diện hoặc Lan Huệ theo ngôn ngữ từng vùng) được du nhập trồng làm vườn làm cảnh, hay trông chậu khắp các vùng trên cả nước với nhiều màu sắc như: đỏ dại, đỏ sọc trắng, hồng đảo, đỏ nhung, trắng (Phạm Thị Minh Phượng & cs 2014).
Đặc điểm thực vật học. Cây Lan Huệ có thân hành hình cầu hoặc cầu dẹt, có lớp cỏ mỏng màu nâu bao ngoài hay còn gọi là lớp áo. Thân chính là phần đế củ, phần phình ra để dự trữ nước và các chất dinh dưỡng là do các bẹ lá tạo thành, chúng có màu xanh non hay trắng ngà, giòn và chứa nước. Kích thước của củ càng to chứng tỏ tuổi của củ càng lớn.
Số lượng vảy củ càng nhiều củ càng to, tích lũy càng nhiều chất dinh dưỡng, sinh trưởng khỏe mạnh, phát triển tốt thì cho nhiều hoa và chất lượng hoa cao, kéo dài thời gian trang trí (Nguyễn Thị Đỏ, 2007). Một củ già thành thục gồm: Đế củ, vảy già, vảy mới ra, trục thân sơ cấp, trục thân thứ cấp, đỉnh sinh trưởng. Hình ảnh củ Lan Huệ được chẻ làm đôi. Lá tập trung ở gốc gần như thành 2 dãy, phiến lá hình dải, hình kiếm, hoặc hình mũi mác, hơi khum thành lòng máng, mọc đối nhau thành hai hàng, lá dài, cứng, có nhiều gân song song (Nguyễn Thị Đỏ, 2007).
Lá trên mỗi dòng có thể phát triển theo thế đứng hoặc thế hơi xiên. Màu sắc lá chủ yếu lá màu xanh, ngoài ra một số dòng có lá màu tía. Hình ảnh lá Lan Huệ. Rễ cây thuộc bộ Liliales nên có hệ rễ chùm gồm nhiều rễ phụ tương đối đồng đều về kích thước (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2014).
Hình ảnh rễ Lan Huệ. (Nguồn: Giao lưu- Mua bán: Lan huệ/ Loa kèn/ Amaryllis/ Những loại hoa có củ) Hoa Lan Huệ mọc thành từng cụm hoa tán có từ 2 đến nhiều hoa trên một trục hoa. Trục hoa (cành mang hoa) hình trụ, thẳng đứng, rỗng, dài 20-75cm, đường kính 1,5-4cm. Lá bắc tổng bao dạng mo, gồm 2 cái mỏng, tồn tại bao lấy cụm hoa, 2 lá này sẽ khô đi khi hoa nở.
Hoa to, đều, lưỡng tính, màu sắc sặc sỡ, 5 có cuống hoa. Gốc cánh hoa thường có màu sắc khác hẳn với màu cánh hoa. Có 6 nhị, chỉ nhị đính ở họng ống bao hoa, bao phấn 2 ô, hình trụ dài màu trắng ngà (hoặc 4 có ánh tím), đính lưng, hướng trong, mở bằng khe dọc. Hoa Lan Huệ thường có 3 dạng: hoa đơn, hoa kép và bán kép.
Hoa thuộc dạng cánh đơn có 6 đài (ba hoa lá đài bên ngoài, ba cánh bên trong, có vẻ ngoài tương tự nhau) (Kathie Carter, 2007). Hoa cánh kép có số cánh hoa/ bông lớn hơn 12 cánh, hoa bán kép có số cánh lớn hơn 6 và nhỏ hơn 12 cánh. Màu sắc hoa phong phú bao gồm các màu cơ bản: đỏ, hồng, trắng, cam và sự kết hợp giữa các màu tạo nên những đặc điểm mới lạ của bông hoa các đường gân trên cánh hoa, các chấm trên cánh, màu sắc viền cánh hay màu sắc họng hoa. Hoa Lan Huệ có thể có mùi thơm, thơm nhẹ hoặc không thơm.
Hoa đồ Lan Huệ. (Nguồn:https://bit. Quả nang hình cầu hoặc hơi dẹt, mở ở khe lưng thành 3 mảnh. Hạt nhiều, dẹt, màu đen hoặc nâu đậm, nội nhũ nạc bao lấy phôi nhỏ.
Kích thước hạt thay đổi tùy thuộc vào giống khác nhau (Nguyễn Thị Đỏ,2007). Hình ảnh quả và hạt Lan Huệ. (Nguồn:https://floraoftheworld.org/taxon/flora/17592186251215). Yêu cầu ngoại cảnh của cây Lan Huệ.
Đất và dinh dưỡng. Lan Huệ thích hợp trồng trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước tốt, không chứa mầm bệnh, có độ pH 6,0 - 7,8, pH tối thích từ 6,0 - 6,8. Đất giàu chất hữu cơ sẽ giúp cho cây sinh trưởng, phát triển tốt nhất (Kathie Carter, 2007). Chất dinh dưỡng là yếu tố rất quan trọng trong quá trình sinh tưởng của cây trồng nói chung và Lan Huệ nói riêng.
Trong thời kỳ ra hoa và khi cây đang phát triển bộ lá thì cây sẽ cần bón nhiều phân nhất. Có thể sử dụng các loại phân hữu cơ, phân tổng hợp, phân bón qua lá để cây có bộ lá khỏe mạnh, màu sắc hoa đẹp và độ bền hoa dài. Đặc biệt, sau vụ hoa, kích thước củ sẽ giảm, để đảm bảo được chất lượng hoa cho vụ sau cần cung cấp dinh dưỡng kịp thời để củ phục hồi sớm nhất, giúp cây có đủ dinh dưỡng cho vụ hoa tiếp theo. Lan Huệ rất mẫn cảm với muối, khi nồng độ muối trong đất cao, cây sẽ không hút được nước, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, ra hoa.
Hàm lượng muối trong đất không cao hơn 1,5mg/cm2, lượng hợp chất clo không vượt quá 1,5 mmol/lít (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2014). Lan Huệ là là cây có khả năng chịu hạn tốt nhưng chịu úng kém. Độ ẩm 7 cần thiết cho Lan Huệ sinh trưởng, phát triển dao động từ 50-90% tùy thuộc mỗi giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây (dẫn theo Trần Văn Tuân, 2015). Trong điều kiện thời tiết mùa mưa cần chú ý hàm lượng nước tưới cho cây, chế độ thoát nước để tránh củ bị ngập úng.
Mùa đông nên hạn chế tưới nước cho cây vì củ hoa lúc này đang trong giai đoạn ngủ nghỉ, dễ bị úng nước, mà chỉ cần giữ ẩm đất trồng cho cây (Robert and Chandy, 1998).