Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo là một trong những quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Sau giai đoạn Đổi mới, dù đời sống nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực, tình trạng nghèo đói vẫn còn tồn tại dai dẳng, đặc biệt tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và khu vực biên giới. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu quốc gia đến năm 2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%, việc tìm hiểu cụ thể các nguyên nhân phát sinh nghèo đói ở cấp cơ sở là nhiệm vụ có tính thực tiễn cao.

Tây Ninh là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ có nhiều tiềm năng phát triển nhưng vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn kinh tế. Trong đó, Tân Phong là một xã thuần nông thuộc huyện Tân Biên với hơn 80% dân số sinh sống bằng nghề nông, phương thức sản xuất nhìn chung còn lạc hậu, năng suất cây trồng - vật nuôi bấp bênh, dẫn đến tình trạng tái nghèo và nghèo kinh niên qua các năm.

Đề tài đặt ra 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định tình trạng nghèo của người dân trên địa bàn thông qua các chỉ tiêu cụ thể: thu nhập, chi tiêu và điều kiện nhà ở.
  2. Phân tích các đặc điểm sinh kế, điều kiện sống và phương thức sản xuất của hộ nghèo để xác định rõ các nhóm nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tại địa phương.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp khả thi nhằm hỗ trợ người dân địa phương từng bước thoát nghèo bền vững.

Để giải quyết các mục tiêu trên, tác giả đã cụ thể hóa thành hệ thống các câu hỏi nghiên cứu:

  • Ai là người nghèo và họ phân bố chủ yếu ở khu vực nào trên địa bàn xã?
  • Tình trạng việc làm, nguồn vốn, tư liệu sản xuất, tài sản sinh hoạt và quy mô đất canh tác của hộ nghèo hiện nay ra sao?
  • Sinh kế và cơ cấu thu chi thực tế của hộ nghèo như thế nào?
  • Đâu là các nguyên nhân chủ quan và khách quan khiến người dân chưa thể thoát nghèo?
  • Những mô hình và giải pháp kinh tế nào phù hợp để hỗ trợ giảm nghèo tại chỗ?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các khía cạnh kinh tế - xã hội và sinh kế của các hộ nghèo trên địa bàn.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (khảo sát trên 5 ấp: ấp Cầu, Sân Bay, ấp Mới, Gò Cát, Bàu Dung).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2001 - 2006; số liệu sơ cấp được điều tra khảo sát thực địa từ ngày 15/07/2007 đến ngày 15/09/2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các quan niệm học thuật và chính sách chuẩn nghèo hiện hành:

  • Khung lý thuyết xã hội học: Tiếp cận khái niệm tầng lớp dưới (Underclass) của William Wilson (cuối thập niên 1980 - đầu thập niên 1990, trích qua Lương Hồng Quang, 2001) chỉ nhóm người thiếu kỹ năng, bị cô lập xã hội và hạn chế tiếp cận các nguồn lực kinh tế; cùng quan điểm của Solages (1996) về nghèo khổ cùng cực gắn liền với hạn chế dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật và môi trường sống kém.
  • Khái niệm nghèo đói: Vận dụng định nghĩa của Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, 1993) về việc không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người theo chuẩn mực kinh tế - xã hội của địa phương; phân biệt giữa nghèo tuyệt đối (chuẩn sinh tồn tối thiểu) và nghèo tương đối (mức sống dưới mức trung bình cộng đồng).
  • Ngưỡng nghèo: Khung lý thuyết của Ngân hàng Thế giới (WB, 1999) về ngưỡng nghèo dựa trên rổ hàng hóa dịch vụ thiết yếu và chi tiêu tiêu dùng; quan điểm của Trang Thị Huy Nhất (2002) về các biến số ngưỡng nghèo.
  • Chuẩn nghèo chính sách: Căn cứ Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/07/2005 của Thủ tướng Chính phủ quy định chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 (nông thôn: $\le 200.000$ đồng/người/tháng; thành thị: $\le 260.000$ đồng/người/tháng) và chuẩn nghèo liền kề do UBND tỉnh Tây Ninh ban hành.
  • Phân loại nguyên nhân nghèo: Vận dụng khung 4 nhóm nguyên nhân của Nguyễn Hữu Nhân (2004) gồm: nhóm nguyên nhân từ bản thân đối tượng, nhóm điều kiện tự nhiên - môi trường, nhóm thể chế - chính sách, và nhóm nguyên nhân tổng hợp.

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, báo cáo xóa đói giảm nghèo (giai đoạn 2001-2006) từ UBND xã Tân Phong, Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo và Giải quyết việc làm (XĐGN & GQVL), số liệu khí tượng từ Trạm Thủy văn Tây Ninh và các niên giám thống kê liên quan.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Điều tra chọn mẫu trực tiếp bằng bảng câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc tại 30 hộ nghèo phân bố trên 5 ấp của xã Tân Phong.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng bảng tần số, tỷ lệ phần trăm, tính số bình quân để mô tả thực trạng nhân khẩu, học vấn, đất đai, nhà ở, tài sản, thu nhập và chi tiêu.
  • Phương pháp tính toán kinh tế nông hộ:
    • $\text{Doanh thu} = \text{Sản lượng} \times \text{Đơn giá bán}$
    • $\text{Tổng chi phí sản xuất} = \text{Chi phí vật chất} + \text{Chi phí lao động}$
    • $\text{Lợi nhuận} = \text{Doanh thu} - \text{Tổng chi phí sản xuất}$
    • $\text{Thu nhập} = \text{Doanh thu} - (\text{Chi phí vật chất mua ngoài} + \text{Chi phí lao động thuê})$
    • Tỷ suất thu nhập trên chi phí ($\text{TSTN/CP}$) và Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí ($\text{TSLN/CP}$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương 1 làm rõ tính cấp bách của công tác xóa đói giảm nghèo trong bối cảnh phát triển của đất nước và tính đặc thù của tỉnh Tây Ninh cũng như xã Tân Phong. Tác giả xác lập mục đích nghiên cứu, 6 câu hỏi định hướng, phạm vi không gian tại xã Tân Phong, thời gian khảo sát sơ cấp (tháng 7 - tháng 9/2007) và dữ liệu thứ cấp (2001 - 2006). Khóa luận cũng nêu rõ giới hạn nghiên cứu do cỡ mẫu khảo sát dừng lại ở 30 hộ trên tổng số 344 hộ nghèo của xã.

Chương 2: Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Tân Phong

  • Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên của xã là 6.231 ha (đất nông nghiệp chiếm 5.479 ha, tương đương 90,82%; đất chuyên dùng 466,44 ha). Địa hình tương đối bằng phẳng, thổ nhưỡng chủ yếu là đất xám phù hợp với cây mì, mía, đậu phộng. Khí hậu có 2 mùa rõ rệt, lượng mưa bình quân 2.500 - 3.500 mm/năm. Nguồn nước mặt phụ thuộc hồ Dầu Tiếng qua kênh Tân Hưng nhưng chỉ đáp ứng cho vụ Đông Xuân; nước ngầm phong phú nhưng thiếu vốn khai thác.
  • Điều kiện kinh tế - xã hội: Năm 2006, dân số toàn xã là 11.766 người (2.912 hộ, bình quân 4,04 người/hộ), gồm 97% người Kinh và 3% người Khmer. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm: nông nghiệp chiếm 80%, công nghiệp 3%, dịch vụ 17%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2006 đạt 3.223.000 đồng/người/năm.
  • Hạ tầng và công tác giảm nghèo: Toàn xã có 42 km đường giao thông nông thôn (hầu hết là đường đất); 85% hộ dùng điện lưới quốc gia; trạm y tế xã có 4 nhân viên y tế (1 bác sĩ, 1 trung cấp, 2 sơ cấp). Cuối năm 2006, xã có 344 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 11,81%), tập trung nhiều nhất tại ấp Sân Bay (95 hộ, 27,62%) và ấp Cầu (68 hộ, 19,77%). Giai đoạn 2001-2005, nguồn vốn XĐGN đã cho 113 lượt hộ vay với số tiền 452 triệu đồng; các đoàn thể tương trợ 564 triệu đồng; tổ chức 32 lớp tập huấn khuyến nông (302 lượt người) và 5 lớp dạy nghề (261 người).

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các khái niệm lý luận về nghèo đói (nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, Underclass), các tiêu chuẩn xác định ngưỡng nghèo theo rổ hàng hóa, chi tiêu và thu nhập theo Quyết định 170/2005/QĐ-TTg. Chương 3 cũng thiết lập quy trình thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp (khảo sát 30 hộ nông hộ nghèo), đồng thời định nghĩa các công thức tính toán tài chính kinh tế nông hộ (Doanh thu, Chi phí, Thu nhập, Lợi nhuận, TSLN/CP, TSTN/CP).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

  • Đặc điểm nhân khẩu và học vấn: 30 hộ nghèo khảo sát có 187 nhân khẩu (bình quân 6,23 người/hộ); tỷ lệ lao động chính là 52,41% (98 người) trong khi số người ăn theo chiếm đến 47,59% (89 người). Trình độ học vấn của chủ hộ rất thấp: 6,7% mù chữ, 66,7% học cấp 1, 23,3% học cấp 2 và chỉ 3,3% có trình độ cấp 3.
  • Tư liệu sản xuất và điều kiện sinh hoạt:
    • 80% hộ nghèo có diện tích đất canh tác dưới 1 ha; diện tích canh tác bình quân chỉ đạt 0,4 - 0,5 ha/hộ (thấp hơn nhiều so với mức bình quân toàn xã là 2,14 ha/hộ).
    • 90% hộ sống tại khu vực giao thông không thuận lợi; 70% sống trong nhà bán kiên cố, 20% nhà tạm bợ dột nát.
    • 36,67% hộ chưa có điện sinh hoạt; 86,67% sử dụng nước sinh hoạt từ giếng đào.
    • Tài sản sản xuất nghèo nàn: 70,27% hộ có bình xịt thuốc sâu, 18,92% có máy bơm nước, 10,81% có trâu bò cày kéo.
  • Tiếp cận chính sách và vốn vay: Chỉ 43,33% (13/30 hộ) được cấp sổ hộ nghèo; 73,33% hộ không tham gia tập huấn khuyến nông. Về tín dụng, 46,67% hộ vay vốn Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, 23,33% vay Quỹ XĐGN và 10% phải vay tư nhân với lãi suất cao.
  • Hiệu quả sản xuất và chi tiêu:
    • Trồng trọt: Cây mì chiếm 43,33%, lúa chiếm 26,67%.
    • Chăn nuôi heo thịt: Thua lỗ bình quân -38.571 đồng/100 kg heo hơi xuất chuồng ($\text{TSLN/CP} = -0,02$) do chi phí giống và thức ăn mua ngoài quá cao.
    • Chăn nuôi bò sinh sản: Đạt lợi nhuận 602.578 đồng/con/năm ($\text{TSLN/CP} = 0,118$; $\text{TSTN/CP} = 0,60$).
    • Chi tiêu: Bình quân chi ăn uống là 124.201 đồng/người/tháng (chiếm 61,87% tổng chi tiêu). Trong chi ngoài ăn uống (76.733,84 đồng/người/tháng), chi phí cho đám tiệc và giao tiếp chiếm tỷ trọng cao nhất (34,93%), trong khi chi cho giáo dục chỉ chiếm 9,50% (7.271,53 đồng/người/tháng).
  • Phân tích nguyên nhân và giải pháp: Khóa luận chỉ ra nguyên nhân khách quan (vị trí giáp biên giới Campuchia khó thu hút công nghiệp, thời tiết thất thường, hệ thống thủy lợi kém, bệnh tật, tệ nạn) và nguyên nhân chủ quan (thiếu đất sản xuất, học vấn thấp, tỷ lệ phụ thuộc cao, thiếu kỹ thuật và vốn). Tác giả đề xuất các giải pháp: hoàn thiện cấp giấy CNQSD đất, phát triển tiểu thủ công nghiệp giải quyết việc làm tại chỗ, đẩy mạnh KHHGĐ, cải tiến khuyến nông theo hướng "cầm tay chỉ việc", miễn giảm học phí cho con em hộ nghèo và nhân rộng hai mô hình nuôi bò thịt, nuôi gà thả vườn.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương cuối tóm tắt bức tranh nghèo đói tại xã Tân Phong: thiếu đất, thiếu việc làm, nhân khẩu đông, học vấn thấp và thiếu vốn tích lũy. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền địa phương: đầu tư cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, lưới điện); tăng cường nguồn vốn vay XĐGN lên 5 - 7 triệu đồng/hộ với chu kỳ 3 - 4 năm; hỗ trợ giáo dục; bố trí cán bộ khuyến nông chuyên trách tại xã và đẩy mạnh công tác kế hoạch hóa gia đình.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm phản ánh trung thực đời sống kinh tế của nông hộ nghèo tại xã Tân Phong vào năm 2007:

Chỉ tiêu khảo sát ($n=30$) Giá trị / Tỷ lệ Ghi chú so sánh
Quy mô nhân khẩu bình quân 6,23 người/hộ Bình quân toàn xã: 4,04 người/hộ
Tỷ lệ người ăn theo (phụ thuộc) 47,59% (89 người) Lao động chính chiếm 52,41% (98 người)
Trình độ học vấn chủ hộ (Cấp 1 & Mù chữ) 73,40% (22 hộ) Mù chữ: 6,7%; Cấp 1: 66,7%
Diện tích đất canh tác bình quân 0,40 - 0,50 ha/hộ Bình quân toàn xã: 2,14 ha/hộ
Tỷ lệ hộ có đất canh tác $< 1$ ha 80,00% (24 hộ) 20% hộ có từ 1 - 2 ha
Tỷ lệ hộ sống trong nhà tạm bợ & bán kiên cố 90,00% (27 hộ) Tạm bợ: 20%; Bán kiên cố: 70%
Tỷ lệ hộ chưa có điện lưới sinh hoạt 36,67% (11 hộ) Tỷ lệ toàn xã chưa có điện: 15%
Tỷ lệ hộ sử dụng nước giếng đào 86,67% (26 hộ) Giếng khoan: 10%; Nước kênh: 3,33%
Tỷ lệ hộ chưa được cấp sổ hộ nghèo 56,67% (17 hộ) Đã được cấp sổ: 43,33% (13 hộ)
Tỷ lệ hộ không tham gia khuyến nông 73,33% (22 hộ) Có tham gia: 26,67% (8 hộ)

Kết quả so sánh hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình chăn nuôi chính của nông hộ:

Khoản mục kinh tế Nuôi heo thịt (trên 100 kg hơi) Nuôi bò sinh sản (1 con/năm)
Doanh thu 1.000.000 đồng 5.000.000 đồng
Tổng chi phí sản xuất 1.038.571 đồng 4.397.422 đồng
Lợi nhuận -38.571 đồng 602.578 đồng
Tỷ suất lợi nhuận / chi phí ($\text{TSLN/CP}$) -0,02 lần 0,118 lần
Tỷ suất thu nhập / chi phí ($\text{TSTN/CP}$) 0,48 lần 0,600 lần

Đóng góp của đề tài:

  • Cung cấp nguồn tư liệu thực địa chi tiết về tình trạng nghèo tại một xã biên giới tỉnh Tây Ninh, làm rõ sự chênh lệch lớn về tư liệu sản xuất (đất canh tác của hộ nghèo chỉ bằng khoảng 1/5 mức bình quân toàn xã).
  • Phát hiện bất cập trong công tác hỗ trợ kỹ thuật: 73,33% hộ không tiếp cận khuyến nông, các hộ có tham gia cũng không đạt thu nhập vượt trội do nội dung tập huấn (cây công nghiệp) không phù hợp với thực tế canh tác cây ngắn ngày của hộ nghèo.
  • Làm rõ nguyên nhân thua lỗ trong mô hình chăn nuôi heo thịt truyền thống và chứng minh tính khả thi kinh tế của mô hình chăn nuôi bò và gia cầm thả vườn đối với điều kiện nông hộ ít vốn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dung lượng mẫu khảo sát còn nhỏ ($n=30$ hộ, chiếm 8,72% tổng số hộ nghèo trên địa bàn xã Tân Phong) do giới hạn về thời gian và nguồn lực điều tra. Đề tài chủ yếu áp dụng phương pháp thống kê mô tả, chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng để lượng hóa tương quan giữa các yếu tố tác động đến xác suất nghèo đói.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên toàn huyện Tân Biên; áp dụng các mô hình hồi quy (Logit/Probit) để phân tích định lượng mức độ tác động của học vấn, đất đai, nhân khẩu đến thu nhập hộ nghèo; nghiên cứu sâu hơn về chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ nông sản cho các mô hình thoát nghèo.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Phát triển nông thôn, Khuyến nông, Kinh tế nông nghiệp: Tham khảo khung phương pháp điều tra thực địa nông hộ, phương pháp tính toán chi phí - doanh thu - lợi nhuận nông hộ và cấu trúc bảng câu hỏi phỏng vấn (Phụ lục 2).
  • Cán bộ quản lý chính sách giảm nghèo cấp cơ sở: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về những rào cản trong việc cấp sổ hộ nghèo, thủ tục vay vốn tín dụng chính sách và sự lệch pha giữa nhu cầu của nông dân với nội dung chuyển giao kỹ thuật khuyến nông.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận xác định quy mô đất canh tác của hộ nghèo tại xã Tân Phong chênh lệch như thế nào so với bình quân toàn xã? Theo số liệu điều tra, 80% hộ nghèo có diện tích đất canh tác dưới 1 ha, mức bình quân chỉ đạt từ 0,4 đến 0,5 ha/hộ. Trong khi đó, diện tích đất canh tác bình quân chung của một hộ trên toàn địa bàn xã Tân Phong là 2,14 ha/hộ.

2. Tại sao mô hình nuôi heo thịt của các hộ nghèo được khảo sát lại rơi vào tình trạng thua lỗ? Mô hình nuôi 100 kg heo thịt có tổng chi phí sản xuất lên tới 1.038.571 đồng (trong đó chi phí vật chất chiếm 80,76%, chủ yếu là tiền mua con giống 412.571,4 đồng và thức ăn mua ngoài 564.000 đồng), trong khi doanh thu bán ra chỉ đạt 1.000.000 đồng, dẫn đến mức lợi nhuận âm (-38.571 đồng/100 kg) với tỷ suất $\text{TSLN/CP} = -0,02$.

3. Thực trạng tiếp cận sổ hộ nghèo và nguồn vốn vay ưu đãi của 30 hộ khảo sát ra sao? Có đến 56,67% (17/30 hộ) chưa được cấp sổ hộ nghèo do mới rơi vào cảnh nghèo, do thủ tục thu hồi cấp mới chậm hoặc do tiêu chí khống chế tỷ lệ để đạt chuẩn ấp văn hóa. Về vay vốn, chỉ 23,33% hộ tiếp cận được Quỹ XĐGN; 46,67% vay Ngân hàng Nông nghiệp và có 10% hộ phải vay nóng tư nhân với lãi suất cao dẫn đến nợ nần chồng chất.

4. Vì sao thu nhập của nhóm hộ có tham gia tập huấn khuyến nông không cao hơn đáng kể so với nhóm không tham gia? Thu nhập bình quân của hộ tham gia khuyến nông đạt 64.836,42 đồng/người/tháng, không chênh lệch nhiều so với hộ không tham gia vì nội dung tập huấn của trạm khuyến nông tập trung vào cây công nghiệp, không sát với thực tế canh tác cây ngắn ngày (lúa, mì) của hộ nghèo, đồng thời cán bộ khuyến nông không cung cấp thông tin thị trường tiêu thụ cho người dân.

5. Cơ cấu chi tiêu của hộ nghèo tại địa bàn có đặc điểm gì đáng chú ý? Chi tiêu cho ăn uống chiếm tỷ trọng áp đảo với 61,87% tổng chi tiêu (124.201 đồng/người/tháng). Trong các khoản chi ngoài ăn uống (76.733,84 đồng/người/tháng), người nghèo phải dành tới 34,93% cho đám tiệc và giao tiếp xã hội (26.729,92 đồng), trong khi chi cho việc học hành của con cái chỉ chiếm 9,50% (7.271,53 đồng/người/tháng).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Long Phi đã phản ánh toàn diện thực trạng nghèo đói tại xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh thông qua dữ liệu khảo sát thực tế năm 2007. Nghiên cứu chỉ ra rằng tình trạng nghèo đói tại địa phương bắt nguồn từ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố: thiếu đất sản xuất nghiêm trọng, quy mô nhân khẩu đông với tỷ lệ ăn theo cao, trình độ học vấn chủ hộ thấp và sự thiếu hụt các hỗ trợ khuyến nông phù hợp. Các giải pháp đề xuất về hỗ trợ vốn vay 5 - 7 triệu đồng/hộ, điều chỉnh nội dung khuyến nông "cầm tay chỉ việc" và phát triển mô hình chăn nuôi bò thịt, gia cầm thả vườn có giá trị thực tiễn cao đối với công tác giảm nghèo tại địa phương.