Tìm Hiểu Nguyên Nhân Nghèo Của Người Dân Tại Xã Tân Phong, Huyện Tân Biên, Tỉnh Tây Ninh

Khóa luận tốt nghiệp phân tích nguyên nhân nghèo của người dân xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, góp phần phát triển nông thôn.

Trường đại học

Trường Đại Học Tây Ninh

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu

2023

77
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM TẠ

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. Sự Cần Thiết Của Đề Tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Nội dung nghiên cứu

1.5. Đối tượng nghiên cứu

1.6. Hạn chế của đề tài

1.7. Cấu trúc luận văn

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

2.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1. Vị trí địa lý

2.1.2. Địa Hình Thổ Nhưỡng

2.1.3. Khí Hậu

2.1.4. Lượng mưa

2.1.5. Nhiệt độ

2.1.6. Độ ẩm

2.1.7. Tài nguyên nước

2.1.7.1. Nguồn nước mặt
2.1.7.2. Nguồn nước ngầm

2.1.8. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên của xã

2.2. Điều kiện kinh tế xã hội

2.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội

2.2.2. Tình hình sử dụng đất

2.2.3. Dân số lao động

2.2.4. Tình hình thu nhập

2.2.5. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất

2.2.5.1. Thông tin liên lạc
2.2.5.2. Hệ thống điện
2.2.5.3. Hệ thống thủy lợi

2.2.6. Tổng quan về tình hình nghèo đói tại xã Tân Phong

2.2.7. Tổng quan về chương trình XDGN trên địa bàn xã

2.2.8. Hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh

2.2.9. Hoạt động dạy nghề, giới thiệu việc làm

3. CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quan niệm chung về nghèo

3.2. Khái niệm nghèo

3.3. Ngưỡng nghèo

3.4. Nguyên nhân nghèo

3.5. Phương pháp nghiên cứu, phương pháp thu thập và xử lý số liệu

3.5.1. Phương pháp mô tả

3.5.2. Các chỉ tiêu tính toán

3.5.3. Tổng chỉ phí sản xuất

3.5.4. Thu nhập

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Mô tả mẫu điều tra

4.2. Đặc điểm của hộ nghèo

4.2.1. Tình hình việc làm

4.2.2. Quyền Sử Dụng Đất của Các Hộ Nghèo

4.2.3. Quy mô diện tích đất canh tác bình quân của hộ nghèo

4.2.4. Điều kiện giao thông của hộ nghèo

4.2.5. Số nhân khẩu

4.2.6. Nguồn lực lao động

4.2.7. Trình độ học vấn của chủ hộ

4.2.8. Mối quan hệ thu nhập bình quân trên/người/tháng

4.2.9. Tình hình tham gia khuyến nông

4.2.10. Tình hình áp dụng KHHGD của hộ nghèo

4.2.11. Được cấp số hộ nghèo

4.2.12. Tình trạng nhà ở

4.2.13. Tình hình sử dụng điện của những hộ nghèo

4.2.14. Tình hình sử dụng nước sinh hoạt

4.2.15. Phương tiện thông tin giải trí

4.2.16. Phương tiện đi lại của hộ nghèo

4.2.17. Tài sản sản xuất của hộ nghèo

4.2.18. Các nguồn hỗ trợ cho người nghèo

4.2.18.1. Nguồn hỗ trợ từ cộng đồng
4.2.18.2. Nguồn hỗ trợ vốn vay của người nghèo

4.2.19. Tình hình sản xuất của hộ nghèo

4.2.19.1. Tình hình trồng trọt của các hộ nghèo
4.2.19.2. Tình hình chăn nuôi

4.2.20. Thu nhập từ những nguồn khác nhau của hộ nghèo

4.2.21. Tình hình chi tiêu của hộ nghèo

4.2.21.1. Chi tiêu cho ăn uống
4.2.21.2. Chi phí ngoài ăn uống của hộ nghèo

4.2.22. Đánh giá chung các hộ điều tra

4.2.23. Nguyên nhân nghèo của người dân trên địa bàn xã

4.2.23.1. Nguyên nhân khách quan
4.2.23.2. Nguyên nhân chủ quan

4.2.24. Đề xuất một số giải pháp giảm nghèo

4.2.24.1. Thiếu đất sản xuất
4.2.24.2. Đối với vấn đề thiếu việc làm
4.2.24.3. Đối với các hộ có số nhân khẩu cao, tỷ lệ người ăn theo nhiều
4.2.24.4. Giải pháp cho nguyên nhân sâu xa
4.2.24.5. Giới thiệu một số mô hình làm ăn trên địa bàn xã phù hợp với điều kiện tự nhiên và người nghèo
4.2.24.5.1. Mô hình nuôi bò lấy thịt
4.2.24.5.2. Mô hình nuôi gà thả vườn

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kiến nghị

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Danh Sách Các Hộ Điều Tra

Phụ lục 2. Bảng Câu Hỏi Điều Tra

Tóm tắt

I. Tổng quan thực trạng nghèo đói tại xã Tân Phong Tân Biên

Xã Tân Phong, một xã thuần nông thuộc huyện biên giới Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, từ lâu đã đối mặt với bài toán giảm nghèo bền vững. Theo luận văn “Tìm Hiểu Nguyên Nhân Nghèo Của Người Dân Trên Địa Bàn Xã Tân Phong” (Nguyễn Long Phi, 2007), tình trạng đói nghèo tại đây không chỉ là một con số thống kê mà còn là hiện thực cuộc sống của một bộ phận dân cư. Báo cáo cuối năm 2006 chỉ ra toàn xã có 334 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 11,81%, một con số đáng báo động, phản ánh những thách thức lớn trong việc nâng cao mức sống tối thiểu cho người dân. Các hộ nghèohộ cận nghèo chủ yếu tập trung ở các ấp vùng sâu, vùng xa như Sân Bay và Cầu, nơi cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế. Cuộc sống của họ gắn liền với nền kinh tế nông nghiệp manh mún, phụ thuộc nặng nề vào điều kiện tự nhiên. Việc phân tích sâu vào bối cảnh kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên của xã là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để xác định gốc rễ của vấn đề, từ đó xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp và hiệu quả. Vấn đề không chỉ nằm ở thu nhập bình quân đầu người thấp, mà còn ở sự thiếu hụt các cơ hội phát triển, sự hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

1.1. Bối cảnh kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên

Tân Phong là xã có vị trí địa lý đặc thù, nằm cách trung tâm huyện 9km và gần biên giới Campuchia, gây khó khăn trong việc thu hút đầu tư công nghiệp và dịch vụ. Nền kinh tế địa phương chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chiếm tới 80% dân số. Tuy nhiên, phương thức sản xuất còn lạc hậu, phụ thuộc lớn vào các cây trồng ngắn ngày như mì, mía, lúa. Cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông nông thôn, chưa phát triển đồng bộ với tổng chiều dài đường là 42km nhưng chủ yếu là đường đất. Điều này gây cản trở lớn cho việc vận chuyển vật tư và nông sản, làm tăng chi phí sản xuất và giảm sức cạnh tranh. Hệ thống thủy lợi dù đã được đầu tư nhưng vẫn phụ thuộc vào nguồn nước từ Hồ Dầu Tiếng, thường xuyên gây ra tình trạng thiếu nước vào mùa khô, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng. Những yếu tố này tạo thành một rào cản vô hình, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

1.2. Các số liệu thống kê về tỷ lệ hộ nghèo tại Tân Phong

Theo số liệu từ UBND xã Tân Phong năm 2006 được trích dẫn trong nghiên cứu, tỷ lệ hộ nghèo phân bố không đồng đều giữa các ấp. Ấp Sân Bay có số hộ nghèo cao nhất (95 hộ, chiếm 27,62% tổng số hộ nghèo toàn xã), phản ánh điều kiện sống khó khăn hơn tại các khu vực vùng sâu. Thu nhập bình quân đầu người của xã vào năm 2006 chỉ đạt mức thấp, không đủ đảm bảo các nhu cầu cơ bản. Cuộc sống của các hộ này đặc trưng bởi nhà ở tạm bợ (20% hộ điều tra sống trong nhà tạm), thiếu phương tiện sản xuất và sinh hoạt. Đáng chú ý, chỉ 43,33% số hộ nghèo được điều tra có sổ hộ nghèo, điều này đồng nghĩa với việc nhiều gia đình khó khăn không thể tiếp cận các chính sách hỗ trợ ưu đãi từ chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo. Thực trạng này đòi hỏi một sự rà soát và đánh giá lại tiêu chí hộ nghèo để đảm bảo an sinh xã hội.

II. Phân tích nhóm nguyên nhân khách quan gây nghèo ở Tân Phong

Các nguyên nhân khách quan đóng vai trò nền tảng, tạo ra một môi trường kém thuận lợi kìm hãm sự phát triển của các hộ nghèo tại xã Tân Phong. Đây là những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của người dân nhưng lại có tác động sâu sắc đến sinh kế của họ. Vị trí địa lý gần biên giới không chỉ hạn chế đầu tư mà còn ảnh hưởng đến an ninh, tâm lý của nhà đầu tư. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, với sự thất thường của thời tiết do biến đổi khí hậu, lúc thì hạn hán kéo dài, lúc thì mưa lũ gây ngập úng, khiến nền kinh tế nông nghiệp vốn đã mong manh lại càng thêm bấp bênh. Sự thiếu hụt đất sản xuất là một trong những rào cản lớn nhất. Theo nghiên cứu, diện tích đất bình quân của hộ nghèo chỉ là 0,4 ha/hộ, quá thấp so với mức bình quân 2,14 ha/hộ của toàn xã. Tình trạng này khiến họ không thể mở rộng quy mô sản xuất, khó áp dụng khoa học kỹ thuật và mãi luẩn quẩn trong vòng đói nghèo. Thêm vào đó, hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém, đặc biệt là giao thông và thủy lợi, đã trực tiếp làm tăng chi phí và rủi ro trong sản xuất.

2.1. Tác động từ vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý của Tân Phong tạo ra một bất lợi kép. Việc nằm gần biên giới khiến xã trở thành vùng “trũng” về thu hút vốn đầu tư công nghiệp, hạn chế cơ hội lao động việc làm phi nông nghiệp cho người dân. Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên ngày càng khắc nghiệt. Hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra thiên tai, dịch bệnh thường xuyên, khiến mùa màng thất bát. Nghiên cứu của Nguyễn Long Phi (2007) nhấn mạnh rằng khi các nhu cầu cơ bản không được đảm bảo, bệnh tật rất dễ phát sinh, tạo thành gánh nặng chi phí y tế và làm suy giảm sức lao động. Những yếu tố khách quan này đẩy các hộ gia đình vào tình thế dễ bị tổn thương, một cú sốc nhỏ về thời tiết hay sức khỏe cũng có thể khiến họ rơi sâu hơn vào cảnh nghèo đói.

2.2. Hạn chế về đất đai và cơ sở hạ tầng sản xuất

Thiếu đất sản xuất là nguyên nhân cốt lõi được chỉ ra trong nghiên cứu. Với diện tích canh tác quá nhỏ, các hộ nghèo không có khả năng tạo ra đủ sản lượng để trang trải cuộc sống, chưa nói đến tích lũy. Hơn nữa, có tới 23,33% hộ nghèo được khảo sát không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khiến họ gặp khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng để đầu tư. Hệ thống giao thông nông thôn kém phát triển làm cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa trở nên vô cùng tốn kém, đặc biệt vào mùa mưa. Cùng với đó, hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu tưới tiêu vào mùa khô đã hạn chế khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang các loại có giá trị kinh tế cao hơn. Tất cả những hạn chế về tư liệu sản xuất và hạ tầng này đã tạo thành một “vòng kim cô” siết chặt lấy đời sống của người dân nghèo.

III. Lý giải nguyên nhân chủ quan kìm hãm giảm nghèo bền vững

Bên cạnh các yếu tố khách quan, những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ chính bản thân các hộ gia đình cũng là một rào cản lớn đối với nỗ lực giảm nghèo bền vững. Trình độ dân trí thấp là một trong những nguyên nhân sâu xa và mang tính hệ thống nhất. Khảo sát cho thấy có đến 66,7% chủ hộ nghèo chỉ có trình độ văn hóa cấp 1 và 6,7% mù chữ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, kỹ năng tính toán, quản lý sản xuất và tìm kiếm thông tin thị trường. Việc thiếu vốn sản xuất cũng là một vấn đề nan giải. Do không có tài sản thế chấp và ngại các thủ tục phức tạp, nhiều hộ không thể tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ ngân hàng chính sách mà phải vay tư nhân với lãi suất cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ngoài ra, quy mô gia đình đông con, tỷ lệ người ăn theo cao (chiếm 47,59% trong các hộ điều tra) đã tạo ra áp lực chi tiêu khổng lồ, khiến các hộ gia đình không thể tích lũy. Những nguyên nhân này đan xen, tạo thành một vòng luẩn quẩn khó thoát.

3.1. Trình độ học vấn thấp và hạn chế trong tiếp cận vốn

Nghiên cứu của Nguyễn Long Phi (2007) đã chỉ ra mối tương quan rõ rệt giữa trình độ dân trí và thu nhập. Chủ hộ có trình độ học vấn càng thấp thì thu nhập bình quân càng giảm. Việc hạn chế về nhận thức khiến họ khó khăn trong việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi, dẫn đến năng suất thấp. Hơn nữa, việc thiếu vốn là một thực trạng phổ biến. Mặc dù có các chính sách hỗ trợ vay vốn, nhưng chỉ 7/30 hộ điều tra được tiếp cận quỹ Xóa đói Giảm nghèo (XĐGN). Nguyên nhân là do thiếu sổ hộ nghèo, ngại thủ tục giấy tờ phức tạp. Điều này đẩy họ vào tình thế phải vay nóng từ tư nhân, dễ rơi vào cảnh nợ nần chồng chất. Sự hạn chế kép về tri thức và vốn khiến các hộ nghèo mất đi công cụ quan trọng nhất để cải thiện cuộc sống.

3.2. Quy mô nhân khẩu và phương thức sản xuất lạc hậu

Một đặc điểm chung của các hộ nghèo tại Tân Phong là quy mô nhân khẩu cao. Có tới 83,33% hộ được khảo sát có từ 4 người trở lên. Tỷ lệ người ăn theo lớn tạo áp lực nặng nề lên lao động chính. Hơn nữa, việc chưa nhận thức đầy đủ về kế hoạch hóa gia đình (30,77% cặp vợ chồng không áp dụng biện pháp tránh thai) khiến gánh nặng này ngày càng gia tăng. Về sản xuất, phương thức canh tác còn manh mún, quảng canh. Họ chủ yếu trồng các loại cây ngắn ngày như lúa, mì với diện tích nhỏ, lợi nhuận không cao. Việc thiếu định hướng nghề nghiệp và không được tham gia các lớp tập huấn khuyến nông phù hợp khiến người dân lúng túng trong việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi hiệu quả, bỏ lỡ nhiều cơ hội cải thiện thu nhập từ chính mảnh đất của mình.

IV. Top giải pháp giảm nghèo bền vững áp dụng tại xã Tân Phong

Để giải quyết tận gốc vấn đề nghèo đói tại xã Tân Phong, cần triển khai một hệ thống các giải pháp đồng bộ, tác động vào cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Việc thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo phải được đặt lên hàng đầu, đảm bảo các chính sách hỗ trợ đến đúng đối tượng và phát huy tác dụng. Một trong những giải pháp cấp bách là giải quyết vấn đề đất sản xuất, bao gồm việc đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân có thể yên tâm đầu tư và dùng làm tài sản thế chấp vay vốn. Bên cạnh đó, việc đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đường giao thông và hệ thống kênh mương thủy lợi, sẽ giúp giảm chi phí sản xuất và tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, cần đa dạng hóa các mô hình thoát nghèo, không chỉ tập trung vào nông nghiệp mà còn khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tạo thêm lao động việc làm tại chỗ. Yếu tố con người phải được xem là trung tâm của mọi giải pháp, với mục tiêu nâng cao năng lực tự vươn lên cho chính người nghèo.

4.1. Hoàn thiện chính sách và hỗ trợ trực tiếp từ địa phương

Chính quyền địa phương cần đóng vai trò chủ động trong việc rà soát, cấp sổ hộ nghèo một cách chính xác để đảm bảo mọi gia đình khó khăn đều được hưởng chính sách an sinh xã hội. Cần đơn giản hóa thủ tục vay vốn ưu đãi, đồng thời tăng cường nguồn vốn XĐGN để mỗi hộ có thể vay từ 5-7 triệu đồng, đủ để đầu tư vào các mô hình thoát nghèo quy mô nhỏ như chăn nuôi bò, gà thả vườn. Công tác khuyến nông phải được cải tổ, thay vì tổ chức các lớp tập huấn chung chung, cần xây dựng các chương trình “cầm tay chỉ việc”, phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của người dân. Cán bộ khuyến nông phải thường xuyên xuống địa bàn, kiểm tra và hướng dẫn kỹ thuật kịp thời, đồng thời cung cấp thông tin thị trường để giúp nông dân sản xuất hiệu quả hơn.

4.2. Xây dựng các mô hình kinh tế và định hướng nghề nghiệp

Dựa trên điều kiện thực tế, luận văn của Nguyễn Long Phi (2007) đề xuất hai mô hình kinh tế phù hợp là nuôi bò lấy thịt và nuôi gà thả vườn. Đây là những mô hình không đòi hỏi vốn đầu tư quá lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh và có thể tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, phù hợp với các hộ ít đất. Chính quyền cần hỗ trợ vốn và kỹ thuật ban đầu để nhân rộng các mô hình này. Song song đó, cần đẩy mạnh công tác đào tạo nghề và định hướng nghề nghiệp. Việc liên kết với các trung tâm dạy nghề để mở các lớp học miễn phí (may công nghiệp, sửa chữa xe máy...) và giới thiệu việc làm sau đào tạo sẽ giúp lao động nông thôn chuyển dịch sang các ngành phi nông nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào mảnh đất vốn đã cằn cỗi và chật hẹp. Khuyến khích xuất khẩu lao động cũng là một hướng đi tiềm năng để tạo ra nguồn thu nhập đột phá cho các hộ gia đình.

V. Đánh giá các chương trình xóa đói giảm nghèo tại xã Tân Phong

Trong giai đoạn 2001-2005, xã Tân Phong đã triển khai nhiều hoạt động trong khuôn khổ chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo (XĐGN). Các nỗ lực này đã mang lại một số kết quả tích cực ban đầu, thể hiện sự quan tâm của chính quyền địa phương và các đoàn thể. Chương trình hỗ trợ vốn sản xuất đã giúp 113 lượt hộ nghèo vay tổng số tiền 452 triệu đồng. Bên cạnh đó, các phong trào giúp nhau phát triển kinh tế của Hội Phụ nữ, Hội Nông dân... cũng huy động được nguồn lực đáng kể từ cộng đồng. Tuy nhiên, hiệu quả của các chương trình này còn hạn chế. Theo khảo sát, chỉ một bộ phận nhỏ hộ nghèo tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi. Các hoạt động dạy nghề và tập huấn kỹ thuật dù được tổ chức nhưng nội dung thường chưa phù hợp với thực tế sản xuất của người dân, dẫn đến hiệu quả áp dụng không cao. Việc đánh giá khách quan những điểm mạnh và điểm yếu của các chương trình đã triển khai là cơ sở quan trọng để điều chỉnh và xây dựng các chiến lược giảm nghèo bền vững hiệu quả hơn trong tương lai.

5.1. Hiệu quả từ các chương trình hỗ trợ vốn sản xuất

Các chương trình hỗ trợ vốn vay là một trong những trụ cột chính của công tác giảm nghèo. Nguồn vốn từ quỹ XĐGN, tín dụng tiết kiệm, và các dự án khác đã giúp một số hộ nghèotư liệu sản xuất ban đầu. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô vốn vay còn nhỏ, thủ tục còn rườm rà và tỷ lệ hộ tiếp cận được còn thấp. Nhiều hộ do không đáp ứng điều kiện hoặc thiếu thông tin đã không thể vay vốn. Điều này cho thấy cần có sự cải thiện trong cơ chế phân bổ và giám sát nguồn vốn, đảm bảo vốn đến tay đúng người, đúng mục đích và đủ lớn để tạo ra sự thay đổi. Sự hỗ trợ từ cộng đồng qua hình thức vay mượn hàng xóm, người thân là một kênh quan trọng nhưng mang tính tự phát và không bền vững.

5.2. Kết quả từ hoạt động dạy nghề và giới thiệu việc làm

Xã đã phối hợp tổ chức được 32 lớp tập huấn khuyến nông và 5 lớp đào tạo nghề (may, tin học, thú y) cho hàng trăm lượt người tham gia. Đây là một nỗ lực đáng ghi nhận nhằm nâng cao trình độ dân trí và kỹ năng lao động. Tuy nhiên, một bất cập lớn được chỉ ra là nội dung tập huấn thường không sát với nhu cầu thực tế. Ví dụ, nông dân trồng cây ngắn ngày lại được tập huấn về cây công nghiệp. Điều này dẫn đến sự khác biệt về thu nhập giữa nhóm có tham gia và không tham gia khuyến nông là không đáng kể. Hoạt động giới thiệu việc làmxuất khẩu lao động tuy đã được triển khai nhưng quy mô còn rất nhỏ (chỉ có 6 lao động nghèo đi xuất khẩu). Để các hoạt động này thực sự hiệu quả, cần có sự khảo sát nhu cầu thị trường lao động và nguyện vọng của người dân một cách kỹ lưỡng hơn.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp phát triển nông thôn tìm hiểu nguyên nhân nghèo của người dân trên địa bàn xã tân phong huyện tân biên tỉnh tây ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Mé đầu 'Giới thiệu sự cần thiết của đề tài, mục đích nghiên cứu đề tài là gì? phạm vi nghiên cứu, nghiên cứu trong khoản thời gian nào và ở đâu. Chương 2: Tổng quan Giới thiệu sơ nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội .của địa phương và giới: thiệu sơ lược về tình hình nghèo của địa phương. Chương 3: Cơ sở lí luận và Phương pháp nghiên cứu Nêu lên những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài: khái niệm về nghèo và một số phương pháp tính toán. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và Thảo luận 5 Trình bày những đặc diém của người nghéo, về điêu kiện sống, những tài sản họ sở hữu Trình bày những sinh kế và thu nhập của người nghèo Nêu lên những nguyên nhân dẫn đến nghèo Chương 5 : Kết luận và kiến nghị Nêu lên những kết luận và kién nghị chung trong quá trinh nghiên cứu.

CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Điều kiện tự nhiên 2.Vị trí địa lý Tân Phong là xã thuộc huyện Tân Biên, nằm về phía nam cách trung tâm thị trần Huyện 9 km, nhân dân sinh sống chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chiếm đến 80% đân số, Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 6231 ha.766 người, mật độ dân số 188,8 người/km2 nhưng phân bố không đều đa số người đân sống chủ yếu tập trung dọc theo hai bên qué lộ 22B và đường Gò Cát- Bau Dung, còn lại là các cụm dân cư nhỏ lẻ. Địa bàn xã: Đông: giáp xã Tân Hưng, Tân Phú — Tân Châu Tây: giáp xã Hòa Hiệp — Tân Biên Nam: giáp xã Mỏ Công — Tân Biên — Tân Biên Bắc: giáp xã Thanh Tây, Tân Bình Xã Tân Phong được chia thành 5 ấp. Trong đó có 3 ấp nằm doc theo quốc lộ 225 4 Gò Cát và Bau Dung 4 vùng sâu là ấp là : ấp Cầu, Sân Bay và ấp Mới và 2 ấp 2.

Địa Hình Thổ Nhưỡng Địa hình tương đối bằng phẳng, ít đốc. Phần lớn điện tích nằm ở vùng gò thuộc đất ray. Do vay, rất phù hợp cho sản xuất các loại cây trồng như: mì, mía,. cả vào mua nang lẫn mùa mưa.

Về thé nhưỡng, đây là loại đất thành phần chủ yếu là đất xám, rất phù hợp với việc phát triển các loại cây trồng là thế mạnh của xã. Khí Hậu Tân Phong cỏ khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, có 2 mùa rõ rệt. Mùa khô từ cuối tháng 10 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 Nhìn chung, khí hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện thuận lợi để sân xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do lượng mưa phân bố theo mùa nên chỉ có mùa mưa thì năng suất cây trồng tương đối còn về mùa nắng năng suất thường thì thấp do thiếu nước, bên cạnh một số đất bỏ trống 2.

Lượng mưa Lượng mưa trung bình biến động khoảng 2500mm — 3500mm một năm. Mùa khô lượng mưa rất ít khoảng 10 — 15% lượng mưa cả năm. Lượng mua cao nhất vào khoảng tháng 8 là 409mm và thấp nhất là tháng 2 khoảng 22,6mm số ngày mưa của xã vào khoảng 203 ngày( số liệu của trạm thủy văn Tây Ninh) 2. Nhiệt độ Nhiệt độ bình quân trong năm khoảng 29-30°C cao nhất vào tháng 2 là 34°C và thấp nhất vào tháng 12 với 27°C, biên độ dao động nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch tương đối không xa vào khoảng 4-6% rất thuận lợi cho cây tích lủy dinh dưỡng và phat triển 2.

Độ 4m Độ ẩm trung bình năm của xã là 80%, độ ẩm trung bình cao nhất vào tháng 8 khoáng 90% và thấp nhất vào tháng 2 là 70% 2.Tài nguyên nước - Nguồn nước mặt Tân Phong được cung cấp lượng nước mặt chủ yếu từ Hồ Dầu Tiếng thông qua hệ thống kênh Tân Hưng | Nhìn chung nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp là tương đối .Nhưng do số lượng nước Hồ Dầu Tiếng chỉ đủ để cung cấp cho sản xuất vụ đông xuân .Còn với những vụ còn lại hầu như phải chuyền đổi cây trồng ,trở thành những cây trồng cạn, từ đó cây. trồng cạn diện tích rất lớn, đối với những cây cần nước nhiều như cây lúa thì diện tích dân bị thu hẹp. Do đó hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao đời sống người dan còn ở mức thấp. Nguồn nước ngầm Nguồn nước ngầm tương đối phong phú vá phân bế đều trên địa bàn xã, chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày còn việc khai thác nước cho sản xuất là rất hạn chế đo không có vốn đầu tư.

Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên của xã Đất đai có chất lượng tốt thuân lợi cho sản xuất nông nghiệp. Nguồn nước mặt còn thiếu, chưa phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp. Khí hậu nhiệt đới gió mùa thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tẾ cao. Cơ sở hạ tầng phát triển chậm đã can trở cho việc phát triển kinh tế, đặt biệt là hệ thống giao thông ở các ấp và giao thông nội đồng, làm cho việc vận chuyển vật tư nông nghiệp, nông sản gặp rất nhiều khó khăn.

Tài nguyên khoáng sản của xã thuộc loại nghèo nàn. Hệ thống tiêu thoát nước kém nên về mùa mưa thường gây lụt lội gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dan nơi đây. Điều kiện kinh tế xã hội 2.Thực trạng phát triển kinh tế xã hội Tân Phong một xã chủ yếu là nông nghiệp, ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ phát triển kém. Hiện tại ngành này chỉ mang tính chất địa phương phục vụ cho nhu cầu hạn hẹp của người dân trong xã.

| Cơ cấu kinh tế xã dịch chuyển chậm năm 2004 co cau nông nghiệp, công nghiệp và dich vụ là 80%, 3%,17% và đến năm 2006 cơ cấu này hau như là không thay đồi.2 Tình hình sứ dụng đất Bang 2. Tình hình sử dụng đất xã Tân Phong 2006 Loại dat Số lượng Cơ câu Dat tự nhiên 6032.00 Đất nông nghiệp 5479 90.82 Đất chuyên ding 466.44 Nguôn: Ban Địa chính xã Qua bảng 2.1 ta thấy diện tích đất phân bổ có sự chênh lệch rat lớn dé thấy rỏ hon hãy xem hình dưới đây Hình 2. Cơ cấu Sir Dung Dat năm 2006 466.1 El Đất nông nghiệp lÑ Đất chuyên dùng L1 Dân ew 5479 Hình trên cho thấy diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn còn đất chuyên dùng và thé cư chiếm một phan tương đối nhỏ Bảng 2. Tình hình đất trồng các loại cây khác nhau khoản mục năm So sánh | 2005 2006 — Tong diện tích 4563 5479 916 Lúa 900 990 90 Mia 300 300 0 Mi 2100 2533 433 Đậu Phộng _ 750 1070 320 Caosu _ 89 89 0 Cây trồng khác 493 §05 312 Nguôn tin: UBND xã Tân Phong 2.

Dân số lao động Đến năm 2006 toàn xã có 11.766 người bình quân 4,04 người/hộ. Trong đó người kinh chiếm 97% và 3% còn lại là người dân tộc khơ me. Tỉ lệ gia tăng dân số trong 2 năm 2005-2006 là 1,03% tông lao động của xã §163 người trong đó lao đông nghiệp chiếm 80%, 20% lao đông tập trung trong lĩnh vực còn lại. Về tín ngướng tôn giáo nhân dân xã Tân Phong có một bộ phận theo đạo: công giáo, cao đài và đạo phật chiếm tỷ lệ 41,02%.

biểu đồ biến động thu nhập BQ/người tại xã Tân Phong Thu nhập B@/người 3800 3700 3500 = : 3300 Af i, BQ/người 3200 SAU À 223 3100 3000 2900 T T mạn 2. Giáo dục Bảng 2. Tình hình giáo dục xã Tân Phong Khoản mục Số lượng trường Số lượng lớp Số học sinh Mẫu giáo 1 7 169 Cấp I 5 49 1.067 Cấp I 1 16 627 Cấp III 0 0 0 Nguôn tin UBND xã Tân Phong Trên địa bàn xã có một trường mẫu giáo, 5 trường tiểu học và một trường THCS, hiện tại trên địa bàn xã chưa có trường cấp II vì vậy số học sinh học cấp II phải đi lên tận thị tran dé học, đến nay toàn xã có khoảng 1916 học sinh trong đó cấp I: 1067, cấp II: 627, và mẫu giáo 169 em. Ngoài ra, dé phục tốt cho công tác nâng cao trình độ dân trí cho người dân trên địa bàn xã, xã thường xuyên liên hệ với Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Huyện Tân Biên mở ra nhiều lớp học cho những đô tuổi khác nhau.

Ngoài ra để nâng cao chất lượng dạy và học, đội ngũ giáo viên không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, 11 Bảng 2. Tình hình dân số và lao động trên địa bàn xã Tân Phong ĐVT:người Khoản mục 2005 2006 Tổng số dân 11.766 Dân nông thôn 11.766 Dân thành thị 0 0 Tổng số lao động 7.163 Có khả năng lao động 3.115 Mat khả năng lao động 255 219 Lao động đang đi học 429 339 Lao động không có việc làm 31 44 Lao động đang làm việc 7.864 Nguôn tin: UBND xã Tân Phong. Tình hình thu nhập Là một xã chủ yếu là nông nghiệp cho nên thu nhập chính của người dan ở nơi đây chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi. Đặt biệt là những loại cây ngắn ngày như : lúa, đậu.

Tuy nhiên trong những năm gần đây, với cơ chế chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn xã trong những năm qua đã đem lại cho người dân có thêm thu nhập nhiều ' hơn. Thu nhập bình quân đầu người tại xã Tân Phong ĐÐVT:(000) đồng Năm 2003 2004 2005 _ 2006 Thu nhập BQ/người 3.223 Nguôn tin :UBND xã Tân Phong 10 thường xuyên phát động phong trào thi đua học tốt nhằm nâng cao ý thức học tập cho học sinh. Cơ sở hạ tang phục vụ sản xuất 2. Thông tin liên lạc Là vấn đề hết sức cân thiết trong quá trình phát triển kinh tế và đời sống của người dân trên dia bàn xã.

Trên địa bàn xã có một bưu điện và 2 đại lý bưu điện. Trong năm qua bưu điện văn hoá xã tiếp thu 315 cuốn sách các loại, ba đầu báo, số lượng người đân đến đọc sách báo khoảng 200-300 lượt người. Doanh thu thu từ điện thoại khoảng 17-18 triệu đồng, từ tem thư 3-4 triều đồng/năm, số lượng trên cho thấy nhu cầu về thông tin liên lạc trên địa bàn xã là rất lớn. Giao thông Toàn xã có tổng chiều dai đường giao thông là 42km hau hết điều là đường đất, nên rất khó khăn cho việc đi lại vào mùa mưa, do hệ thống thoát nước kém Bảng 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ