CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cách tiếp cận và thuật ngữ liên quan 1.1 Cách tiếp cận hệ thống Trong luận văn này, để có cái nhìn tổng thể, bao quát và đầy đủ nhất về đời sống văn hóa của cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre, chúng tôi vận dụng cách tiếp cận hệ thống. Cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu văn hóa được phát triển đầu tiên bởi những đại biểu của cấu trúc luận và chức năng luận như Lévi-Strauss, Radcliffe- Brown. Theo thuyết cấu trúc luận, cấu trúc là nguyên lí tổ chức cơ bản nằm dưới trật tự của một xã hội nhất định. Cần vượt xa sự nghiên cứu những hiện tượng bề mặt để thâm nhập logic sâu hơn, khái quát hơn trong hệ thống văn hóa.
Còn theo thuyết chức năng luận, mỗi nền văn hóa có thể được hiểu như một toàn thể hữu cơ của những thể chế/ thiết chế. Nghiên cứu chức năng của một thể chế có nghĩa là tìm kiếm vai trò của nó trong tương quan hệ với những thể chế, những thành tố văn hóa khác. Chức năng của một thể chế, cấu trúc là sự đóng góp của nó đối với sự liên tục và sống sót của toàn thể. Như vậy, chức năng và giá trị của các yếu tố trong hệ thống văn hóa là do cấu trúc của hệ thống quy định, cụ thể là vị trí của từng yếu tố và quan hệ tương tác giữa các yếu tố.
Không phải mọi yếu tố trong hệ thống đều có chức năng và giá trị như nhau. Vì hệ thống văn hóa do con người tạo lập, nên con người luôn giữ vị trí trung tâm, là hệ thần kinh vận hành hệ thống. Về mặt này, chúng tôi theo quan điểm giáo trình Các vùng văn hóa Việt Nam, do Lý Tùng Hiếu biên soạn và giảng dạy tại Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học KHXHVNV, ĐHQG TPHCM. Theo đó, chúng tôi xem văn hóa là một hệ thống bao gồm ba yếu tố có quan hệ hữu cơ với nhau là chủ thể văn hoá, văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể.
Trong đó ở vị trí trung tâm và có vai trò quan trọng nhất của hệ thống là chủ thể hoặc các chủ thể văn hoá. Phân bố xung quanh chủ thể văn hóa là văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể. “Chủ thể văn hoá (cultural subjects): bao gồm các tộc người, các cộng đồng người cư trú trong một không gian văn hoá và có các hoạt động văn hoá, truyền thống 14 văn hoá góp phần làm nên các đặc trưng văn hoá của không gian ấy. Các thuộc tính của chủ thể văn hóa có thể bao gồm: thành phần tộc người, ngôn ngữ, giai cấp, tầng lớp xã hội, học vấn, nghề nghiệp, truyền thống văn hóa, ý thức hệ, thế giới quan, nhân sinh quan, tâm lý, tính cách, lối sống, đạo đức,…” [28, tr.
Chủ thể văn hóa là yếu tố quyết định khả năng vận động và biến đổi của toàn hệ thống. Vì thế trong hệ thống văn hoá, chủ thể văn hoá là yếu tố trung tâm và đóng vai trò lựa chọn, quyết định nội dung, tính chất của hệ thống văn hóa. “Văn hoá vật thể (tangible culture): bao gồm những yếu tố văn hóa có thể tiếp xúc được, như văn hóa mưu sinh, văn hóa ẩm thực, văn hóa phục sức, văn hóa cư trú, văn hóa giao thông,…Tùy theo mục đích nghiên cứu, các yếu tố này có thể được chia nhỏ hơn nữa hoặc được gộp lại thành những nhóm lớn hơn. Do mang đặc tính vật thể, đây là những yếu tố dễ biến đổi dưới tác động của môi trường văn hóa.
Văn hoá phi vật thể (intangible culture): bao gồm những yếu tố văn hóa không thể tiếp xúc và tương tác trực tiếp, như văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa tín ngưỡng, văn hóa phong tục, văn hóa lễ hội, văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, văn hóa giao tiếp,. Do mang đặc tính phi vật thể, đây là những yếu tố gắn chặt với chủ thể văn hoá và tương đối khó biến đổi dưới tác động của môi trường văn hóa. Vì vậy, đây cũng là nơi thể hiện, bảo tồn bản sắc văn hóa, linh hồn dân tộc tương đối lâu bền. Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể không chỉ là văn hóa nhân tạo do con người tạo ra mà còn bao hàm cả yếu tố thiên tạo được con người nhận thức, tác động.
Việc phân biệt văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể chỉ mang tính chất tương đối vì chúng thường hòa quyện vào nhau. Văn hóa vật thể tưởng chừng như chỉ là những yếu tố văn hóa có thể tiếp xúc được nhưng trong những yếu tố đó luôn chứa đựng những giá trị mang tính tinh thần, và ngược lại trong văn hóa phi vật thể các giá trị văn hóa được thể hiện thông qua các trung gian truyền dẫn có tính vật chất (nghệ nhân dân gian, thợ thủ công, nhà tu, chủ lễ,…). Cả 3 yếu tố chủ thể văn hóa, văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể có sự tương tác qua lại lẫn nhau tạo nên một hệ thống văn hóa. Hệ thống văn hóa này khác nhau 15 giữa những bộ tộc, tộc người khác nhau.2 Cách tiếp cận địa văn hóa Khi nghiên cứu văn hóa, các nhà nghiên cứu đã quan tâm mối quan hệ giữa địa lí và văn hóa.
Ngay từ ban đầu với cách tiếp cận ở góc độ địa lí, các nhà nghiên cứu thường xem yếu tố “địa” hay điều kiện tự nhiên là yếu tố quyết định, chi phối tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống con người. Quan điểm này gọi chung là quyết định luận địa lí hay quyết định luận môi trường. Sau đó với sự phát triển của khoa học, đặc biệt là trong nghiên cứu văn hóa thì vai trò của con người được coi trọng. Những nhà nghiên cứu văn hóa nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.
Tự nhiên là một bộ phận trong môi trường sống của con người, còn con người muốn tồn tại phải có môi trường sống. Như vậy văn hóa muốn phát triển thì không thể nào tách rời với điều kiện tự nhiên. Nói về địa văn hóa, Đinh Thị Dung trong tập bài giảng Địa văn hóa và các vùng văn hóa Việt Nam cho rằng: “Trong văn hóa học, đây là khái niệm chỉ hướng tiếp cận văn hóa từ góc độ không gian, khảo sát văn hóa theo chiều ngang, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những đặc điểm “gốc” của một nền văn hóa” [6]. Theo đó, tự nhiên là một trong những điều kiện quan trọng để sản sinh ra văn hóa nhưng không phải là yếu tố tiên quyết mà cần phải có cái nhìn đa chiều, bổ sung nhiều cách tiếp cận khác như mối quan hệ lịch sử – cội nguồn, giao lưu và tiếp biến văn hóa.
Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu chú trọng cách tiếp cận địa văn hóa đã được nhiều nhà khoa học áp dụng. Theo Đào Duy Anh: “Cách sinh hoạt của con người, tức là văn hóa có quan hệ rất mật thiết với điều kiện tự nhiên, cho nên nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, ta phải nghiên cứu hoàn cảnh tự nhiên của dân tộc ấy trước” [5, tr. Nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng thì phân chia các vùng văn hóa dựa trên tiêu chí các hệ sinh thái: “Thiên nhiên Việt Nam là điểm xuất phát của văn hóa Việt Nam. Văn hóa là sự thích nghi và biến đổi tự nhiên.
Thiên nhiên đặt ra trước con người những thử thách, những thách đố. Văn hóa là sản phẩm của con người, là sự phản ứng, là sự trả lời của con người trước những thách đố của tự nhiên” [59, tr. 16 Lý Tùng Hiếu thì cho rằng: “Sự hình thành và biến đổi của các hệ thống văn hoá tộc người, văn hoá vùng,… trước hết bắt nguồn từ hai nhân tố là điều kiện địa lí tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hoá. Tính chất tĩnh tại hay năng động, biến đổi chậm chạp hay nhanh chóng, mức độ biến đổi ít hay nhiều của hệ thống văn hoá, đều phụ thuộc vào sự biến động của hai nhân tố ấy” [26, tr.
Theo đó, những tác động của tự nhiên đối với văn hóa có thể chia làm hai loại: điều kiện địa lí tự nhiên (địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khí hậu, thực vật, sinh thái, địa thế (vị trí địa lí)) là nguồn nguyên vật liệu để kiến tạo văn hóa và giao lưu văn hóa quy định khả năng tiếp biến, tốc độ biến đổi của văn hóa. Khi nghiên cứu với cách tiếp cận địa văn hóa như trên, thì ta sẽ thấy rằng hai nhân tố điều kiện địa lí tự nhiên và giao lưu văn hóa là tiền đề của quá trình hình thành và biến đổi văn hóa tộc người. Những tiền đề ấy sẽ được hiện thực hóa thông qua năng lực sáng tạo và lựa chọn của chủ thể văn hóa là các tộc người, các cộng đồng người. Bến Tre cũng là một vùng đất có điều kiện tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hóa vừa thuận lợi vừa có những khó khăn, thách thức, cho nên cách tiếp cận địa văn hóa sẽ là cách tiếp cận mà chúng tôi sử dụng để làm nổi bật cách ứng xử với môi trường tự nhiên của cư dân nơi đây.3 Cách tiếp cận liên ngành Theo cách tiếp cận này thì văn hóa được xem là một đối tượng tổng thể, là một lĩnh vực rất rộng và hết sức trừu tượng đòi hỏi khi nghiên cứu phải có quan điểm và tư duy phức hợp.
Cách tiếp cận liên ngành không phải đơn giản là sự cộng gộp các ngành khoa học lại với nhau, mà là sự tổng hợp các cách tiếp cận, các phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành khác nhau vào trong một ngành khoa học mới và văn hóa học chính là một ngành khoa học mới. Phạm Đức Dương nhận định: “Phương pháp liên ngành là tiếp cận một đối tượng bằng nhiều cách thức, dựa trên cứ liệu của nhiều chuyên ngành” [40], có các mức độ gồm dùng phương pháp của một ngành ứng dụng vào các ngành khác, dùng lý thuyết của ngành A áp dụng vào các ngành B, C, D để xem xét hiệu quả và tìm những điểm nổi trội, giao thoa giữa các ngành khoa 17 học. Có thể nói cách tiếp cận liên ngành là một công cụ đặc biệt, cần thiết và hữu hiệu trong việc khai thác, xử lí hiệu quả nguồn tư liệu đa dạng, phong phú từ cách ngành khác nhau nhằm nghiên cứu những vấn đề văn hoá học hiện nay.