Chương 1: Văn chương viết về Hà Nội và hành trình sáng tác của Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Ngọc Tiến, Nguyễn Trương Quý Chương 2: Bức tranh đời sống đô thị trong tản văn viết về Hà Nội Chương 3: Đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện LVTN - Khoa Văn học, ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN 7 Lê Ngọc Hà Đề tài đô thị hiện đại trong tản văn của các nhà văn Hà Nội NỘI DUNG CHƢƠNG 1 VĂN CHƢƠNG VIẾT VỀ HÀ NỘI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA ĐỖ PHẤN, NGUYỄN VIỆT HÀ, NGUYỄN NGỌC TIẾN, NGUYỄN TRƢƠNG QUÝ 1. Truyền thống văn chƣơng viết về Hà Nội 1. Từ trong truyền thống Nguyễn Huệ Chi trong tác phẩm Gương mặt văn học Thăng Long đã đưa ra khái niệm về vùng văn học Thăng Long. Văn học Thăng Long hay văn học viết về Thăng Long - Hà Nội đều dựa trên đặc điểm về một vùng không gian địa lý đặc biệt.
Hà Nội xưa vốn đã nổi bật với nền văn minh sông Hồng trù phú, có sự liên đới của cả văn hóa tiền Đông Sơn và văn hóa Đông Sơn. Thăng Long - Hà Nội có sức hút đặc biệt, lực “hút tâm” thu hút các vùng lân cận của xứ Đông, xứ Đoài, kể cả các vùng biên viễn được gọi là “trại”. Đặc biệt khi Lý Thánh Tông (1023 - 1072) quyết định cho xây dựng Văn Miếu năm 1070, Lý Nhân Tông (1066 - 1127) cho lập trường Quốc Tử Giám năm 1076, Thăng Long - Hà Nội trở thành trung tâm của chế độ khoa cử, thu hút nhân tài của đất nước tập trung về tham dự thi cử. Khi bộ máy hành chính trung ương của chế độ quân chủ được thiết lập với quy chế khoa cử nhằm tuyển lựa người tài thì việc bổ sung cho đội ngũ văn nhân nghệ sĩ của Thăng Long bằng nhân tài cả nước đã trở thành một cơ chế được vận hành như một tất yếu.
Cùng với đó là các vị quan từng trải, học vấn uyên thâm, sau nhiều năm nhậm chức ở các địa phương, được Triều đình tuyển về làm quan tại Kinh đô và trở thành người Thăng Long một cách tự nguyện trong nếp sống cũng như trong sáng tác văn chương mới là vế đáng nói hơn nhiều. Chính điều này đã biến Thăng Long thành đối tượng cho các danh sĩ xưa sáng tác. Lực lượng sáng tác cũng trở nên đông đảo, không chỉ của những LVTN - Khoa Văn học, ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN 8 Lê Ngọc Hà Đề tài đô thị hiện đại trong tản văn của các nhà văn Hà Nội người sinh ra và lớn lên ở Thăng Long mà còn cả những danh sĩ đến học tập và làm việc ở mảnh đất Kinh kỳ. Thăng Long trở thành miền đất hứa thu hút các tinh hoa của mọi vùng miền trên cả nước.
Điểm lại dòng chảy lịch sử, Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ (974 - 1028), là tác phẩm khởi đầu của văn học sáng tác về Thăng Long - Hà Nội. Tác phẩm là áng văn chính luận mẫu mực, đánh dấu bước ngoặt cho sự ra đời của Thủ đô nghìn năm văn hiến, cũng là khởi đầu cho dòng sáng tác về Hà Nội. Chiếu dời đô đã khắc họa một Hà Nội là trung tâm của cả nước, thuận lợi cho việc phát triển lâu dài của đất nước: “Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh.
Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” [28; 230]. Nối tiếp bước khởi đầu vững chắc, những danh sĩ các triều đại đã sáng tác những áng văn chương bất hủ về mảnh đất Kinh kỳ. Thăng Long thế kỉ XIII, XIV có sự góp mặt của đông đảo vua quan, danh sĩ triều Trần. Từ Trần Thái Tông (1218 - 1277), Trần Tung (1230 - 1291), Trần Quốc Tuấn (1232 - 1300), Trần Quang Khải (1241 - 1294), Trần Thánh Tông (1240 - 1290), Trần Nhân Tông (1258 - 1308), Trần Anh Tông (1276 - 1320), Mạc Đĩnh Chi (1280 - 1346), Chu Văn An (1292 - 1370), Trần Minh Tông (1300 - 1357), Trương Hán Siêu (? - 1354), Trần Nguyên Đán (1325 - 1390), Trần Lâu (? - ?).
Văn học sáng tác về Thăng Long có sự hòa quyện cả ba sắc màu Phật, Nho, Đạo và tràn đầy âm hưởng chiếu, hịch, ngữ lục, luận thuyết, thi ca…Từ một thời đã qua, đã xa, kinh thành Thăng Long vẫn là nơi hoài vọng của bao người. Những địa danh gắn với lịch sử như Chương Dương, Hàm Tử (trong thơ Trần Quang Khải, Trần Lâu). Trong tác phẩm Tòng giá hoàn kinh sư, Trần Quang Khải hồi tưởng về chiến trường xưa để liên hệ với bài học xây dựng đất nước: LVTN - Khoa Văn học, ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN 9 Lê Ngọc Hà Đề tài đô thị hiện đại trong tản văn của các nhà văn Hà Nội Phiên âm: Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm hồ Hàm Tử quan Thái bình tu nỗ lực Vạn cổ thử gian san. Bản dịch của Trần Trọng Kim: Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù Thái bình nên gắng sức Non nước vẫn nghìn thu [28; 320].
Trần Lâu trong Quá Hàm Tử quan từng bồi hồi khi đứng trước chiến trường xưa cũ đã lui vào dĩ vãng: Phiên âm: Thuyết trước sa trường cảm khái đa, Như kim Hàm Tử mạn kinh qua. Cổ chinh hung dũng triều thanh cấp, Kỳ bái sâm si trúc ảnh tà. Vương đạo hồi xuân nùng cổ thụ, Hồ quân bão hận sấu hàn ba. Toa Đô thụ thủ tri hà xứ, Thuỷ lục sơn thanh nhập vọng xa Dịch nghĩa: Từng nghe trận đánh ở đây, lòng ta rất cảm khái, Đến nay ta mới đi qua chốn Hàm Tử này.
LVTN - Khoa Văn học, ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN 10 Lê Ngọc Hà Đề tài đô thị hiện đại trong tản văn của các nhà văn Hà Nội Tiếng sóng ồn ào như trống chiêng nổi dậy, Bóng tre nghiêng ngả như cờ quạt tung bay. Nhà vua trở về làm cây cối xuân tươi, Quân Hồ ôm hận rút lui giống làn sóng lạnh. Toa Đô nộp đầu chẳng biết nơi nào, Nước biếc non xanh trông vời xa ngút [9]. Thăng Long thế kỉ XV, có sự xuất hiện nổi bật của Nguyễn Trãi (1380 - 1442) và Lê Thánh Tông (1442 - 1497).
Cả hai ngoài dấu ấn chính trị, đều là những tác giả kỳ tài, bậc nhất đương thời, góp phần làm giàu thơ Nôm dân tộc. Nguyễn Trãi ngoài đóng góp về việc tìm hiểu địa lý Hà Nội, các sáng tác của ông cũng mang dấu ấn của địa vật Hà Nội. Đông Quan (Hà Nội) được nhắc đến trong thơ ông trong quá trình sáng tác: “Góc thành Nam, lều một gian,/ No nước uống, thiếu cơm ăn”. Lê Thánh Tông là một nhà thơ lớn, tác phẩm ông để lại rất phong phú, vừa thơ, vừa văn xuôi, vừa Hán, vừa Nôm, hiện còn được sao chép trong các tập: Thiên Nam dư hạ (trong đó có bài phú nổi tiếng Lam Sơn Lương Thủy phú), Châu Cơ thắng thưởng Chinh Tây kỷ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn.
Đứng đầu hội văn học Tao Đàn (Thập nhị Bát tú: Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh…), Lê Thánh Tông cũng dẫn đầu phong trào sáng tác. Thơ Lê Thánh Tông để lại khá nhiều và có giá trị cao về nội dung tư tưởng. Các sáng tác ca ngợi “vua sáng tôi hiền”, “giang sơn cẩm tú”, trong đó có những tác phẩm sáng tác về cảnh vật, con người Hà Nội. Thăng Long thế kỉ XVIII có sự xuất hiện của một loạt tác giả sáng tác về mảnh đất Kinh kỳ.
Đây là thời điểm rối ren của lịch sử với những cuộc binh biến, chiến tranh liên miên. Lê Hữu Trác (1720 - 1791) với Thượng Kinh ký sự, dòng họ Ngô Thì với Hoàng Lê nhất thống chí, Phạm Đình Hổ (1768 - LVTN - Khoa Văn học, ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN 11 Lê Ngọc Hà Đề tài đô thị hiện đại trong tản văn của các nhà văn Hà Nội 1839), Nguyễn Án (1770 - 1815) với Tang thương ngẫu lục vẽ lên bộ mặt kinh thành Thăng Long trong cơn giông bão của lịch sử Việt Nam. Kinh thành Thăng Long hiện lên với những màu sắc đa diện của đời sống sinh hoạt, chính trị; những góc khuất của bộ mặt phong kiến thời kỳ suy tàn. Thăng Long thế kỉ XIX, xuất hiện đông đảo các tác giả sáng tác về mảnh đất Kinh kỳ.
Nối tiếp dòng văn học trước, các tác giả thời kỳ này có cái nhìn chiêm nghiệm về mảnh đất nghìn năm văn hiến, trải qua bao cảnh dâu bể. Có thể kể đến những hạt nhân như Nguyễn Du (1756 - 1820), Phạm Quý Thích (1760 - 1825), Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858), Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872), Cao Bá Quát (1809 - 1855),… và cũng lần đầu tiên xuất hiện những tác giả là nữ sĩ như nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), Bà Huyện Thanh Quan (1805 - 1848), Hồ Xuân Hương (1772-1822),… Nguyễn Du là người có tuổi thơ gắn chặt với Thăng Long do vậy ông am hiểu mảnh đất này hơn ai hết. Năm 1789, Tây Sơn kéo quân ra Bắc, Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái Bình. Sau này, năm 1802, khi được mời ra làm quan cho triều Nguyễn ông có dịp trở lại Thăng Long.
Lúc này không còn thành Thăng Long nữa, mà là một tòa thành mới xây. Nguyễn Du ngơ ngác trên đất cõi thành xưa, ông làm hai bài thơ về Thăng Long. Thăng Long bài 1 Phiên âm: Tân lĩnh lô giang tuế tuế đồng Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long Thiên niên cự thất thành quan đạo Nhất phiến tân thành một cố cung, Tương thức mỹ nhân khan bão tử Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông LVTN - Khoa Văn học, ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN 12 Lê Ngọc Hà Đề tài đô thị hiện đại trong tản văn của các nhà văn Hà Nội Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy Doãn địch thanh thanh minh nguyệt trung [26]. Dịch nghĩa: Núi Tản và sông Lô (tức sông Hồng) đời đời vẫn thế, ta đầu bạc rồi còn được thấy Thăng Long, nhưng dinh thự đồ sộ ngàn xưa nay đã bị san phẳng làm lối đi, một mẫu thành cỏn con (phiến) mới xây trên nền cố cung xưa, các co gái xinh đẹp quen biết nay đã con bế con bồng, các bạn hào hiệp lúc trẻ nay đã thành các ông lão, suốt đêm thao thức không ngủ được, văng vẳng nghe tiếng sáo giữa đêm thanh vắng.