Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu chuỗi giá trị lúa Nếp Tan tại xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La" do sinh viên Bạc Cầm Nhàn thực hiện tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, năm 2020) dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Thị Ngọc.

Chiềng Khoang là xã vùng 2 của huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, có điều kiện thổ nhưỡng phù sa màu mỡ ven lưu vực sông Đà và tiểu vùng khí hậu đặc thù, thích hợp cho sự sinh trưởng của giống lúa Nếp Tan bản địa. Đây là giống lúa nếp đặc sản truyền thống, hạt to tròn, khi đồ chín có độ mềm dẻo kéo dài, vị ngọt thanh và mùi thơm đặc trưng, được người dân địa phương canh tác lâu đời. Tuy nhiên, việc duy trì nguồn giống hoàn toàn dựa trên phương pháp chọn lọc thủ công qua kinh nghiệm qua nhiều thế hệ khiến giống lúa có biểu hiện thoái hóa. Dù sản lượng lúa dư thừa đã bước đầu được thương mại hóa ra thị trường lân cận, quá trình vận hành chuỗi ngành hàng bộc lộ nhiều điểm nghẽn: khâu sản xuất chưa có sự liên kết chặt chẽ với thị trường tiêu thụ; chất lượng nông sản không đồng đều; công nghệ thu hoạch, sơ chế và bảo quản còn thô sơ; mức độ tham gia của chính quyền địa phương và doanh nghiệp còn hạn chế; nông dân thiếu kiến thức về phân tích thị trường và kỹ thuật thâm canh.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:

  1. Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị lúa Nếp Tan đặc sản tại xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.
  2. Đánh giá mức độ tham gia của các tác nhân trong chuỗi giá trị lúa Nếp Tan.
  3. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của chuỗi giá trị lúa Nếp Tan tại địa bàn nghiên cứu.
  4. Phân tích tính bền vững của chuỗi giá trị lúa Nếp Tan.
  5. Xác định những thuận lợi, khó khăn và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm duy trì, nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị trong thực tiễn sản xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chuỗi giá trị lúa Nếp Tan và các tác nhân tham gia vào chuỗi (nông dân trồng lúa, đại lý cung ứng vật tư, lái buôn thu gom, người bán lẻ, người tiêu dùng và các cơ quan quản lý).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; trong đó khảo sát trực tiếp tại 3 bản có diện tích canh tác lúa Nếp Tan lớn nhất gồm: bản Hán (29,13 ha), bản He (28,45 ha) và bản Ca (20,76 ha).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2017 – 2019; số liệu sơ cấp được điều tra thực địa từ ngày 15/01/2020 đến ngày 10/05/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận cơ sở lý luận kinh tế nông nghiệp thông qua các khung khái niệm và mô hình phân tích chuỗi giá trị:

  • Khái niệm chuỗi giá trị: Áp dụng định nghĩa của Kaplinsky và Morris (2001) theo cả nghĩa hẹp (tập hợp các hoạt động kết nối người sản xuất với người tiêu dùng trong một chu trình sản xuất khép kín) và nghĩa rộng (phức hợp các hoạt động từ cung ứng nguyên liệu thô, sản xuất, chế biến đến phân phối và bán lẻ cho người tiêu dùng cuối cùng).
  • Khái niệm ngành hàng: Vận dụng cách tiếp cận của Fabre về ngành hàng nông nghiệp nhằm nhận diện chuỗi kế tiếp của các tác nhân kinh tế từ khâu cung ứng yếu tố đầu vào đến khâu tiêu dùng hoàn tất.
  • Bộ 8 công cụ phân tích chuỗi giá trị: Lựa chọn chuỗi giá trị ưu tiên; lập sơ đồ chuỗi giá trị; phân tích chi phí và lợi nhuận; phân tích công nghệ và kiến thức; phân tích thu nhập; phân tích việc làm; phân tích quản trị và dịch vụ hỗ trợ; phân tích các mối liên kết dọc và ngang trong chuỗi.
  • Hệ thống chỉ tiêu tài chính và kinh tế vi mô: Tổng giá trị sản xuất ($GO = \sum P_i Q_i$), Chi phí trung gian ($IC$), Giá trị gia tăng ($VA = GO - IC$), Thu nhập hỗn hợp ($MI = VA - [A + T]$), Lợi nhuận thuần ($Pr = GO - TC$), Chi phí cố định ($FC$), Chi phí biến đổi ($VC$), Tổng chi phí ($TC = FC + VC$), Tỷ suất hiệu quả kinh tế ($H = Q/C$).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:

  • Phương pháp chọn mẫu khảo sát: Toàn xã Chiềng Khoang năm 2019 có 165 ha lúa Nếp Tan với 91 hộ canh tác phân bổ tại 10/11 bản. Tác giả lựa chọn 3 bản trọng điểm có quy mô lớn nhất (bản Hán, bản He, bản Ca) và tiến hành điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 50/91 hộ trồng lúa (chiếm 54,9% tổng số hộ trồng lúa Nếp Tan toàn xã). Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu các tác nhân trung gian gồm thương lái thu gom, hộ bán lẻ, người tiêu dùng và đại diện chính quyền cơ sở.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo phát triển kinh tế – xã hội hàng năm (2017 – 2019) của UBND xã Chiềng Khoang; số liệu sơ cấp thu thập thông qua phiếu khảo sát bán cấu trúc và phỏng vấn trực tiếp tại thực địa.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh kinh tế (đối chứng giữa giống lúa đặc sản Nếp Tan và giống lúa đối chứng Nếp 87) và phương pháp lập bảng cân đối chi phí – doanh thu – lợi nhuận.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng phát triển giống lúa nếp đặc sản tại huyện Quỳnh Nhai gắn liền với chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) và xây dựng nông thôn mới. Xác định hệ thống 5 mục tiêu cụ thể, 6 câu hỏi nghiên cứu làm cơ sở định hướng cấu trúc khóa luận, đồng thời nêu rõ ý nghĩa học thuật và thực tiễn của đề tài đối với địa phương.

Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Hệ thống hóa các lý thuyết về chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị hàng hóa nông sản, bộ công cụ phân tích chi phí – lợi nhuận và quản trị chuỗi. Điểm luận các công trình nghiên cứu chuỗi giá trị lúa gạo và nông sản trong nước (các dự án nghiên cứu của ADB, DFID, SNV, GTZ, Viện Nghiên cứu thương mại; nghiên cứu chuỗi giá trị lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long của Võ Thị Thanh Lộc, Nguyễn Phú Son, Lê Nguyễn Đoan Khôi) và tài liệu quốc tế (nghiên cứu của Fearne và Hughes năm 1998, báo cáo chuỗi giá trị của FAO năm 2008).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu, phạm vi thời gian, phương pháp chọn điểm và chọn 50 hộ mẫu điều tra tại 3 bản Hán, He, Ca. Thiết lập hệ thống các công thức toán kinh tế tính toán giá trị sản xuất ($GO$), chi phí trung gian ($IC$), giá trị gia tăng ($VA$), thu nhập hỗn hợp ($MI$) và lợi nhuận ($Pr$).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội xã Chiềng Khoang: Tổng diện tích tự nhiên đạt 3.527 ha (đất nông nghiệp chiếm 2.482,81 ha; đất rừng phòng hộ 1.778,62 ha; đất trồng cây hàng năm 450,16 ha). Thu nhập bình quân năm 2019 đạt 5,6 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo còn 54,2%; tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật đạt 12,0%. Xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới vào đầu năm 2020 với 75,86% đường giao thông được bê tông hóa.

Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa Nếp Tan xã Chiềng Khoang giai đoạn 2017 – 2019 được tổng hợp tại bảng sau:

Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 So sánh 2018/2017 (%) So sánh 2019/2018 (%)
Diện tích ha 158,00 160,00 165,00 101,27 103,13
Năng suất tạ/ha 39,72 40,50 41,65 101,96 102,84
Sản lượng tạ 6.275,76 6.480,00 6.872,25 103,25 106,05

Phân tích hiện trạng các khâu trong chuỗi giá trị lúa Nếp Tan:

  • Cung ứng vật tư: Nông dân mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật từ các đại lý tư nhân nhỏ lẻ tại địa phương qua giao dịch mua bán trực tiếp, chưa có hợp đồng kinh tế hay chính sách hỗ trợ giá.
  • Sản xuất và thu hoạch: 100% diện tích gieo cấy thủ công trên ruộng bậc thang, thu hoạch bằng liềm; việc làm sạch thóc thực hiện bằng quạt tay; phơi khô tự nhiên dưới ánh nắng trên nền sân gạch hoặc bạt nhựa; đóng bao 50 kg bảo quản tại nhà.
  • Chế biến: Chuỗi giá trị bị khuyết khâu sơ chế và chế biến công nghiệp tập trung. Các sản phẩm chế biến phụ (cốm non, cốm già, rượu hoẵng, cơm lam) chỉ phục vụ tiêu dùng tự cấp hoặc bán lẻ nhỏ lẻ. Nông sản bán ra thị trường chủ yếu ở dạng thóc khô.
  • Kênh phân phối thương mại: Trong tổng số 150 tấn thóc hàng hóa năm 2019, nông dân xuất bán qua 3 kênh chính: bán cho thương lái thu gom chiếm 52,1% (78,15 tấn); bán cho người bán lẻ địa phương chiếm 27,0% (40,50 tấn); bán trực tiếp cho người tiêu dùng tại nhà chiếm 15,0% (22,50 tấn); bán qua mạng xã hội chiếm 3,7% và bán tại các chợ phiên chiếm 2,2%. Thị trường tiêu thụ nội huyện chiếm 81,7%, thị trường ngoài huyện/ngoại tỉnh chiếm 18,3%.

So sánh hiệu quả kinh tế giữa lúa Nếp Tan và lúa Nếp 87 vụ mùa năm 2019 (tính trên quy mô 1 ha):

Chỉ tiêu so sánh Đơn vị tính Lúa Nếp Tan Lúa Nếp 87 Chênh lệch (±) Tỷ lệ so sánh (%)
Tổng sản lượng tạ/ha 41,65 61,50 -19,85 67,72
Giá bán bình quân VNĐ/kg 17.000 9.000 +8.000 188,89
Chi phí lao động (284,75 công) VNĐ 19.932.500 19.932.500 0 100,00
Tổng chi phí ($TC$) VNĐ 28.432.500 28.350.000 +82.500 100,29
Tổng giá trị sản xuất ($GO$) VNĐ 70.805.000 55.350.000 +15.455.000 127,92
Thu nhập hỗn hợp ($MI$) VNĐ 62.305.000 46.932.500 +15.372.500 132,74
Lợi nhuận thuần ($Pr$) VNĐ 42.372.500 27.000.000 +15.372.500 156,87
Tỷ suất hiệu quả kinh tế ($GO/TC$) lần 2,49 1,95 +0,54 127,69

Phần 5: Giải pháp duy trì và phát triển chuỗi giá trị lúa Nếp Tan tại xã Chiềng Khoang

Đề xuất 2 nhóm giải pháp căn bản:

  • Giải pháp thị trường: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể/chỉ dẫn địa lý cho thương hiệu "Lúa Nếp Tan Chiềng Khoang"; phát triển sản phẩm OCOP đạt chuẩn sao; mở rộng mạng lưới phân phối qua các đại lý tỉnh ngoài và kênh thương mại điện tử; xây dựng bao bì, nhãn mác có truy xuất nguồn gốc.
  • Giải pháp tổ chức sản xuất: Phục tráng và làm thuần nguồn giống lúa Nếp Tan bản địa; tổ chức tập huấn chuyển giao quy trình kỹ thuật canh tác an toàn; thành lập các tổ hợp tác/hợp tác xã chuyên canh lúa nếp để làm đầu mối liên kết với doanh nghiệp; đầu tư công nghệ máy sấy thóc cơ giới hóa nhằm giảm rủi ro thời tiết sau thu hoạch.

Phần 6: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp các phát hiện nghiên cứu chính và đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với UBND tỉnh Sơn La, Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND huyện Quỳnh Nhai và UBND xã Chiềng Khoang trong việc phân bổ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chuỗi nông sản đặc sản.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

Kết quả chính của nghiên cứu:

  • Lập được sơ đồ chuỗi giá trị và sơ đồ luồng vận chuyển thương mại cho 150 tấn thóc Nếp Tan hàng hóa năm 2019 tại xã Chiềng Khoang, chỉ rõ tỷ trọng phân phối qua từng tác nhân (thương lái kiểm soát 52,1%, người bán lẻ địa phương phân phối 62,4% đến tay người tiêu dùng cuối cùng).
  • Chứng minh tính ưu việt về mặt kinh tế của giống lúa Nếp Tan bản địa so với giống lúa thuần Nếp 87: Mặc dù năng suất lúa Nếp Tan đạt thấp hơn (41,65 tạ/ha so với 61,50 tạ/ha của Nếp 87), nhưng nhờ giá bán cao gần gấp đôi (17.000 VNĐ/kg so với 9.000 VNĐ/kg), lợi nhuận thuần đạt 42.372.500 VNĐ/ha, cao hơn 15.372.500 VNĐ/ha (tăng 56,87%) so với lúa Nếp 87. Tỷ suất doanh thu trên chi phí đạt 2,49 lần (bỏ ra 1.000 đồng chi phí thu về 1.490 đồng tiền lãi).
  • Nhận diện các điểm nghẽn của chuỗi: Khâu sơ chế – bảo quản – chế biến sâu chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp chế biến công nghiệp; thiếu sự liên kết hợp đồng kinh tế giữa nông dân và đơn vị thu mua; sản phẩm lưu thông chủ yếu ở dạng thóc thô chưa có nhãn hiệu chứng nhận.

Đóng góp của đề tài:

  • Cung cấp nguồn cơ sở dữ liệu thực chứng và phân tích định lượng chi tiết về cơ cấu chi phí, doanh thu, lợi nhuận của chuỗi giá trị lúa đặc sản tại địa bàn miền núi tỉnh Sơn La.
  • Đóng góp luận cứ khoa học hỗ trợ UBND xã Chiềng Khoang và huyện Quỳnh Nhai trong công tác quy hoạch vùng sản xuất tập trung, phát triển sản phẩm OCOP và hoàn thiện các tiêu chí nâng cao chất lượng tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát sơ cấp mới tập trung tại 3/11 bản của xã Chiềng Khoang với cỡ mẫu 50 hộ sản xuất, chưa bao quát được toàn bộ 91 hộ trồng lúa trên toàn địa bàn.
  • Dữ liệu định lượng về chi phí và giá trị gia tăng ở các khâu trung gian của thương lái ngoại tỉnh và đại lý bán lẻ ngoài huyện còn mang tính ước lượng do khó khăn trong tiếp cận sổ sách kế toán của các tác nhân thương mại tự do.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh chuỗi giá trị lúa Nếp Tan Chiềng Khoang với các giống nếp đặc sản khác trên địa bàn tỉnh Sơn La (như Nếp Tan Mường Và - Sốp Cộp, Nếp Mường Chanh - Mai Sơn).
  • Nghiên cứu sâu về phân tích chuỗi giá trị gia tăng ở các khâu chế biến sâu (cốm công nghiệp, tinh bột nếp, các sản phẩm lên men truyền thống) và đánh giá sự sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng tại các đô thị lớn đối với nông sản có chỉ dẫn địa lý.

Giá trị tham khảo của khóa luận

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản trị kinh doanh nông nghiệp khi cần tài liệu tham khảo về phương pháp luận phân tích chuỗi giá trị nông sản quy mô cấp xã.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp, khuyến nông tại huyện Quỳnh Nhai và tỉnh Sơn La trong việc hoạch định chính sách hỗ trợ phát triển vùng chuyên canh lúa đặc sản và xúc tiến thương mại nông sản OCOP.
  • Phần đáng tham khảo nhất là quy trình tính toán đối chứng chi phí – hiệu quả kinh tế giữa giống lúa bản địa và giống lúa đối chứng (Bảng 4.6 và Bảng 4.7), cùng phương pháp lập sơ đồ dòng sản phẩm (Sơ đồ 4.2).

Câu hỏi thường gặp

  1. Hiệu quả kinh tế của 1 ha lúa Nếp Tan vượt trội hơn lúa Nếp 87 ở mức độ nào?
    Năm 2019, 1 ha lúa Nếp Tan mang lại tổng giá trị sản xuất đạt 70.805.000 VNĐ và lợi nhuận thuần đạt 42.372.500 VNĐ. So với lúa Nếp 87, dù năng suất thấp hơn 19,85 tạ/ha, lợi nhuận thuần của lúa Nếp Tan vẫn cao hơn 15.372.500 VNĐ/ha (tương đương mức tăng 56,87%) nhờ giá bán bình quân đạt 17.000 VNĐ/kg (cao hơn 8.000 VNĐ/kg so với Nếp 87).

  2. Kênh phân phối 150 tấn thóc Nếp Tan thương phẩm của xã Chiềng Khoang diễn ra như thế nào?
    Nông dân xuất bán 52,1% (78,15 tấn) qua thương lái thu gom, 27,0% (40,50 tấn) cho người bán lẻ địa phương, 15,0% (22,50 tấn) bán trực tiếp tại nhà cho người tiêu dùng, 3,7% bán qua mạng xã hội và 2,2% bán tại các chợ phiên. Tỷ trọng tiêu thụ tập trung chủ yếu ở thị trường nội huyện (81,7%), lượng hàng chuyển đi ngoại huyện và tỉnh ngoài chiếm 18,3%.

  3. Tổng chi phí lao động để sản xuất 1 ha lúa Nếp Tan vụ mùa là bao nhiêu công và thành tiền?
    Tổng mức đầu tư lao động cho 1 ha lúa Nếp Tan vụ mùa năm 2019 là 284,75 công lao động (bao gồm làm đất, gieo mạ, cấy, chăm sóc và thu hoạch). Với đơn giá thuê nhân công tại địa phương là 70.000 VNĐ/công, tổng chi phí lao động tương đương 19.932.500 VNĐ, chiếm khoảng 70% tổng chi phí sản xuất (28.432.500 VNĐ/ha).

  4. Khâu nào đang bị thiếu hụt hoặc yếu nhất trong chuỗi giá trị lúa Nếp Tan Chiềng Khoang?
    Chuỗi giá trị lúa Nếp Tan Chiềng Khoang đang bị khuyết khâu sơ chế, đóng gói và chế biến tập trung quy mô lớn. 100% nông dân thu hoạch thủ công bằng liềm, tuốt lúa bằng máy nhỏ chạy xăng hoặc đạp chân, phơi khô tự nhiên phụ thuộc vào thời tiết và bán thóc thô; chưa có doanh nghiệp đầu tư dây chuyền sấy, xay xát, đóng gói bao bì chuyên nghiệp có nhãn hiệu chứng nhận.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bạc Cầm Nhàn đã phản ánh toàn diện hiện trạng sản xuất và thương mại hóa lúa Nếp Tan tại xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Nghiên cứu khẳng định lúa Nếp Tan là cây trồng đặc sản có hiệu quả kinh tế cao với tỷ suất doanh thu trên chi phí đạt 2,49 lần và lợi nhuận thuần vượt trội 56,87% so với giống lúa đối chứng. Công trình đã làm rõ những điểm nghẽn về liên kết chuỗi, công nghệ sau thu hoạch và thị trường tiêu thụ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp gắn với đăng ký chỉ dẫn địa lý, nâng cấp OCOP và tổ chức lại sản xuất tập trung cho địa phương.