Chương 1: KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ, GIÁO NGHĨA, PHƯƠNG PHÁP TU TẬP PHẬT GIAO MAT TONG VÀ KHÁI QUÁT VE DIA BAN NGHIÊN CỨU 1. Khái lược về lich sử Phat giáo Mật Tông va sự hình thành phat triển tại Việt Nam Theo tư tưởng Phật giáo Đại Thừa thì trong 49 ngày thiền định dưới gốc Bồ Dé, Đức Phật đã thuyết hai bộ Kinh lớn là Kinh Hoa Nghiêm và Kinh Phạm Võng trong cảnh giới Thiền định cho các Đại Bồ tát và bát bộ Hộ Pháp, trong đó Ngài Kim Cương Tát Đỏa là Thượng Thủ. Khi Bồ tát Văn Thù và Tôn giả A Nan kết tập xong bộ Kinh này thì Long Vương đã thu về cất giữ trong tháp sắt ở Long cung. Sau này, khi Bồ tát Long Thọ ra đời, Ngài đã nhập thiền định đỉnh lễ Bồ tát Kim Cương Tát Đỏa, vào cảnh giới Long Cung dé đọc các bộ Kinh Hoa Nghiêm này gồm có ba bản: Thượng, Trung và Hạ (Bản Hạ có 10 vạn bài kệ và 38 phẩm; Bản Trung có 49 vạn 8 nghìn § trăm bài kệ, 1200 phẩm; Bản Thượng có 1300 Đại Thiên Thế Giới và số kệ nhiều như bụi nhỏ, Một Tứ Thiên Hạ Sớ Bản kệ nhiều như bụi nhỏ).
Long Thọ Bồ tát thay rằng con người ở thế giới Sa Bà chỉ có thé lĩnh hội được giáo lý trong Ban Hạ với 10 vạn bài kệ nên Ngài đã ghi nhớ và cho Đệ tử ghi chép lại sau này và các bộ Kinh Đại Nhật Như Lai, Kim Cương Đỉnh cũng được xuất hiện từ đây.[4] Phật giáo Mật Tông được chính thức thành lập vào thế kỷ thứ VII ở vùng Nam An Độ. Ở An Độ, giai đoạn mà Mật giáo phát triển mạnh mẽ nhất là dưới thời các Vương triều Pàla (750 - 1150 sau CN) ở Bengale (An D6). Nhà Vua Dharmapala (thế ky VID), người đã nhiệt thành ủng hộ xây dựng Tu viện Vikramasila, làm trung tâm truyền bá Mật giáo. [5, 12] Ngài Long Thọ Bồ tát (Nagarjuna, 150 - 250) được coi là vị Tổ Sư của Mật giáo.
Ngài thuộc dòng Bà la môn, thụ giới tại Nalanda, sau đó đến Vương Xá tu mười hai năm đắc thánh quả Đại thủ ấn tat địa (Mahamudrasiddhi). Long Trí (Nagabodhi) là truyền nhân của Ngài Long Tho. Sau mười hai năm tu hành, Ngài chứng ngộ thánh quả. Kim Cương Trí (Vajrabodhi, 663 - 723) người Nam Ấn, tu học ở Nalanda.
Năm mười lim tuổi qua Tây An học về Nhân Minh luận với Ngài Pháp Xứng, sau đó tham học về Luật, Trung Quán luận, Du già luận, Duy Thức luận,. sau cùng tu học và nghiên cứu Kim Cương Đỉnh (Vajra Sekhàra) và các Kinh Mật giáo với Ngài Long Trí ở Nam An bảy năm. Năm 720, Ngài qua Trung Hoa, đến Lac Dương truyền bá Mật giáo. Ngài được coi như vi Tổ đầu tiên của Mật Tông Trung Hoa đồng thời với Ngài Thiện Vô Úy.
Bắt Không Kim Cương (Amoghavajra, 750 - 774) là đệ tử xuất sắc của Ngài Kim Cương Trí. Ngài người Bắc Ấn, thụ giới Sa di năm 15 tuổi, theo Thầy đến Lạc Dương thọ Tỷ khiêu giới năm 20 tuổi. Tu học mười hai năm thông suốt Mật giáo. Sau khi Thầy mất, Ngài cùng với các đệ tử qua Tích Lan nghiên cứu giáo lý Kim Cương đỉnh Du già và Dai Nhật thai tạng.
Trở về Trường An với số Kinh điển đồ sé, Ngài khởi công dịch thuật. Ngài Bất Không Kim Cương là Quốc sư của ba triều vua Huyền Tông, Túc Tông và Đại Tông. Thiện Vô Úy (Subhakarasimha, 637 - 735) là đệ tử của Ngài Long Trí, tức là huynh đệ với Ngài Kim Cương Trí, từng là vua xứ Orissa, tu học ở tu viện Nalanda, thâm hiểu Du già, Chân ngôn và ấn quyết. Mật giáo Ấn Độ được khởi xướng và truyền bá do các cao Tăng như Long Thọ, Long Trí, Kim Cương Trí, Thiện Vô Úy.
Trên mặt giáo nghĩa và hành trì thì chia làm hai phái Chân ngôn thừa (Mantrayàna) và Kim Cương thừa (Vajrayàna), dựa theo tư tưởng của hai bộ Kinh Đại Nhật và Kim Cương Đỉnh. [9; 16] Tại Việt Nam trước 1945, sự phát triển Chân ngôn Tông hay Mật Tông diễn ra qua ba thời kỳ: Thời kỳ đầu vào khoảng thê kỷ thứ II - III sau Công Nguyên, Mật Tông đến từ Ấn Độ được truyền bá chủ yếu qua đường tơ lụa trên biên, khi các Tôn giả người An Độ đi cùng với các đoàn thương gia qua trao đổi thương mại với xứ Giao Châu. Khi đó Cổ Loa, Luy Lâu đã là một trung tâm Phật giáo lớn tại xứ Giao Châu, người Giao Chỉ nói riêng và khu vực nói chung, nơi đây đã có nhiều đạo tràng, chùa chiền phát triển với số lượng lớn Tăng sỹ tu hành. Bộ Kinh Đại Nhật Như Lai, Kim Cương Đỉnh, Tô Tắt Địa.
đã được truyền bá và thuyết giảng tại xứ Giao Châu trong thời kỳ này. Đặc biệt phải ké đến hệ thống hình thành và thờ cúng Phật Mẫu Man nương tứ Pháp bao gồm chùa Dâu (Thuận Thành - Bắc Ninh), chùa Dâu (Phúc Khê Tự, Khúc Thuy xưa - nay thuộc quản lý cua Thôn Thuong Phúc, xã Ta Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội) thờ Phật Pháp Vũ va Ma But (tháp Phật - thời vua A Dục) cùng thời điểm với chùa Đậu (Thường Tín), chùa Tướng, chùa Dàn, chùa Tổ (Thuận Thành - Bắc Ninh) đã được các Tôn giả như Diệu Đức, Ca Diếp Ma Đằng (Kim Trang), Trúc Pháp Lan (Kim Quốc), Khâu Đà La. cùng với chính quyền Ngô Sĩ Nhiếp cho xây dựng vào thời kỳ đầu thế kỷ thứ 2 thờ Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, Man Nương - Tứ Pháp [29]. Bên cạnh hệ thống năm chùa ở Bắc Ninh còn có nhiều nơi khác nữa như ở ngoại thành Hà Nội có hệ thống: Chùa Sùng Nghiêm (Keo) thờ Pháp Vân (hai pho tượng); chùa Ninh Hiệp (chùa Nành) thờ Pháp Vân gọi là chùa bà Nành; chùa Pháp Vân, Pháp Vũ ở Thanh Trì; chùa Đại Bi (chùa Sét) thờ Tứ Pháp.
Ở tỉnh Hưng Yên, xã Lạc Hồng có: Chùa Thái Lạc thờ Pháp Vân; chùa Hồng Cầu thờ Pháp Vũ; chùa Nhạc Miếu thờ Pháp Lôi; chùa Hong Thai tho Phap Dién; X4 Lac Dao có chùa Lac Dao thờ Pháp Van; chùa Hoang thờ Pháp Vũ; chùa Hướng Dao thờ Pháp Lôi; chùa Tân Nhuế thờ Pháp Điện. Ở tỉnh Hà Tây cũ (nay là Hà Nội) có chùa Pháp Vân thờ Pháp Vân; chùa Thành Đạo (chùa Đậu) thờ Pháp Vũ. Ở tỉnh Hà Nam có: Chùa Quế Lâm (chùa Bến hay còn gọi là chùa Bà Bến), chùa Do Lễ, chùa Thôn Bồn, chùa Tiên thờ Pháp Vân; chùa Trinh Sơn, chùa Bảo Sơn (chùa Bà Đanh) thờ Pháp Vũ; chùa Đặng Xá, chùa Nứa thờ Pháp Lôi; chùa Bầu thờ Pháp Điện. [30; 33] Qua đây cũng cho thấy các Tôn giả Án Độ đã khéo léo đưa Phật giáo hoà nhập vào văn hóa tín ngưỡng bản địa (từ văn hóa lúa nương chuyển sang nên văn minh đông bằng lúa nước) và hình tượng Man Nương - Tứ Pháp tiêu biểu cho Phật Bộ “Ngũ Trí Như Lai” với bốn vị Phật ở bốn phương (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện - A Súc Bệ Phật; Bảo Sinh Phật; A Di Đà Phật; Bất Không Thành Tựu Phật) và vị trí trung tâm là Đại Nhật Như Lai (Man nương), Bản tôn là Đại Phật Mẫu Chuẩn Đề là me bay muôn ức Đức Phật cũng tương ứng với anh hưởng văn hóa Mẫu hệ bản địa tại thời kỳ đó.
Từ các căn cứ trên chúng ta có thê thấy Chân ngôn 10 Tông đã đến với Việt Nam rat sớm, ngay sau khi được hình thành và phát triển tại An Độ bởi Tổ Sư Long Thọ. [30] Thời kỳ thứ hai: Đến thé kỷ thứ VI, Mật Tông đã có sự phát triển về giáo luật với sự hiện diện của Thiền Sư Ty Ni Da Lưu Chi người An Độ, Thiền Sư đã tiếp tục phát triển Mật Tông tại xứ Giao Châu qua hình thức tu tập “Tổng Trì Tam Muội” (Dharani samadhi), dịch hai bộ Kinh là Kinh Tượng Đầu Tinh Xá và kinh Đại thừa phương quảng Tổng trì. Nhận xét về dòng Thiền Tỳ Ni Da Lưu Chi ở Việt Nam, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh cho rằng: “Tượng Đầu Tinh Xá là một kinh có chủ đề thiền và chủ đề giác ngộ Bồ đề, thuộc văn hệ Bát Nhã. Còn Kinh Tổng Trì là một trong những kinh đầu tiên của hệ thống Mật giáo.
Vì vậy cho nên chúng ta biết rằng pháp thiền quán của dao But mà thay Tỳ Ni Da Lưu Chi đem vào Giao Châu hồi đó, có hai màu sắc: Màu sắc của Bát Nhã và màu sắc của Mật Tông. Đến Thầy Tỳ Ni Đa Lưu Chi, mới là Bat Nhã. Nhung Bát Nhã ở đây được yém trợ bởi tư tưởng Tâm Ấn của Mật Tông”. [13] Lịch sử Phật giáo Việt Nam và Nhật Bản cùng ghi nhận rằng vào thế kỷ thứ VIII (752), Tổ Sư Phật Triết người Việt Nam đã từ xứ Giao Châu di hoằng truyền Phật Pháp và Chân ngôn Tông sang Nhật Bản và trở thành vị Sơ Tổ khai sáng Nhã Nhạc Nhật Bản (nhạc cung đình) có nguồn gốc từ Lâm Ấp Nhạc của Việt Nam và dựa trên nghi thức cúng dàng lời ca tiếng nhạc lên chư Phật.
Những vũ điệu Bồ tát, Bạt Đầu, Bội Lư. được nhà Sư Phật Triết xây dựng thành những tiết mục công phu, kết hợp cả diễn tau âm nhac, múa hát, hóa trang, mang nội dung tư tưởng Phật giáo và âm hưởng nhac Lâm Ap (Việt Nam) kết hợp với mau sắc trong cung đình Nhật Bản, đã tạo hiệu ứng độc đáo, trở thành nên tảng dé phat trién thanh nhac cung dinh Nhat Ban sau nay. [8; 9] Cũng giai đoạn thé kỷ 8-10 nhà tiền Lê và nhà Lý, Mật Tông đã rat thịnh hành tại Việt Nam, vua quan lại đã cho dựng những cột đá chạm khắc thần chú như Tam tự tổng tri (OM AH HUM), Phật Dinh Tôn Thắng Da La Ni, Bạch Tan Cái Thần Chú. tại một số chùa, nơi thờ tự và các di tích được xác định xây dựng vào khoảng các năm 973, 995 tại kinh đô Hoa Lư Ninh Bình, dấu ấn Mật Tông còn thê hiện qua 11 các hệ thông Pháp tu hành như Chuan Đề, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Mã đầu Quan Âm.
cùng các nghi lễ Thiên Phật, Hội đèn quảng chiếu, lễ hội tụng Kinh Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Đa. Các cao Tăng thời đó như Khuông Việt, Lý Khánh Vân, Từ Đạo Hạnh, Thiền Nham, Nguyễn Minh Không, Giác Lộ, Giác Hải, Nguyện Học. đều nổi danh bởi phương Pháp tu tập Tổng Tri này. [1; 5] Thời kỳ thứ ba vào thế kỷ thứ XIII - XIV với sự xuất hiện của Thiền phái Trúc Lâm: “Giáo hội Trúc Lâm là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đã có mặt tại Đại Việt từ thé kỷ thứ XII, XIV.