Luận văn: Khai phá mạng xã hội từ bản ghi sự kiện doanh nghiệp - ĐHCN, ĐHQG HN

Luận văn thạc sĩ: Khai phá mạng xã hội từ dữ liệu hoạt động doanh nghiệp. Nghiên cứu ứng dụng phân tích bản ghi sự kiện để hiểu sâu hơn về tương tác.

Chuyên ngành

Công nghệ Thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

51
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NHẬT KÝ SỰ KIỆN VÀ KHAI PHÁ QUY TRÌNH

1.1. Khái niệm nhật ký sự kiện

1.2. Khai phá quy trình

2. Chương 2: KHAI PHÁ MẠNG XÃ HỘI

2.1. Khai phá mạng xã hội

2.2. Trích xuất đồ thị quan hệ xã hội từ các bản ghi sự kiện

2.3. Các độ đo trong xây dựng đồ thị quan hệ xã hội

2.3.1. Độ đo dựa trên quan hệ nhân quả

2.3.2. Độ đo dựa trên trường hợp chung

2.3.3. Độ đo dựa trên các hoạt động chung

2.4. Phân tích mạng xã hội

3. Chương 3: CẢI THIỆN ĐỘ ĐO TRONG XÂY DỰNG ĐỒ THỊ QUAN HỆ XÃ HỘI

3.1. Đánh trọng số

3.2. Áp dụng trọng số chuyển giao vào công thức độ đo

4. Chương 4: CÀI ĐẶT, THỰC NGHIỆM

4.1. Công cụ MiSoN

4.2. Thiết kế và cài đặt

4.2.1. Thiết kế tổng thể

4.2.2. Cấu trúc tệp nhật ký sự kiện đầu vào

4.2.3. Thiết kế lớp

4.2.4. Luồng hoạt động

4.3. Kết quả thực nghiệm

Tóm tắt

I. Tổng quan Khai phá mạng xã hội từ dữ liệu doanh nghiệp

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, các hệ thống thông tin doanh nghiệp ngày càng được ứng dụng phổ biến, trong đó có thể kể đến những cái tên tiêu biểu: HRM – hệ thống quản lý nhân sự, CRM - quản trị quan hệ khách hàng… Các hệ thống này lưu trữ dữ liệu sự kiện hoạt động của doanh nghiệp dưới dạng các bản ghi có cấu trúc kèm theo thông tin về thời gian, chi tiết hoạt động, đối tượng tham gia…, nhờ đó chúng ta có thể hình dung được luồng công việc một cách có hệ thống. Tuy nhiên, các hệ thống nói trên mới mới chỉ dừng ở mức lưu trữ và thống kê, dữ liệu sự kiện của các doanh nghiệp vẫn chưa được sử dụng một cách hiệu quả trong việc hỗ trợ nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành. Việc phân tích các bản ghi sự kiện đã được thực hiện từ rất sớm với nhiều công trình nghiên cứu khác nhau. Hầu hết các đề tài nghiên cứu hiện nay đều đi theo hướng khai phá quy trình - sử dụng các bản ghi sự kiện phục vụ việc xây dựng, cải tiến và kiểm chứng mô hình quy trình. Tuy nhiên, bên cạnh các thông tin về thời gian, công việc thì nhiều hệ thống còn ghi lại cả thông tin về yếu tố con người (ví dụ người thực thi hành động, người được chuyển giao công việc…). Như vậy, các bản ghi sự kiện ngoài việc phản ánh luồng công việc còn có thể phản ánh được mối quan hệ cộng tác trong công việc giữa các cá nhân, nhóm người trong doanh nghiệp. Môi trường doanh nghiệp cũng có thể coi là một xã hội thu nhỏ, và mối quan hệ trong công việc có thể coi là một loại quan hệ xã hội trong xã hội thu nhỏ đó. Các cá nhân, nhóm người trong doanh nghiệp cùng mối quan hệ giữa họ hình thành nên mạng xã hội. Từ các bản ghi sự kiện chúng ta có thể xây dựng nên mô hình mạng xã hội cũng như phân tích dữ liệu để cho ra những thông tin tổng hợp dưới góc nhìn thuận tiện, hữu ích, hỗ trợ cho nhà quản trị doanh nghiệp. Luận văn của tôi dựa trên nghiên cứu của WMP Van der Aalst và Minseok Song trình bày trong [1]. Trong đó, các bản ghi sự kiện sẽ được sử dụng trong khai phá mạng xã hội (mà cụ thể hơn là khai phá mối quan hệ giữa các cá nhân/nhóm người) nhằm phục vụ cho việc quản trị nhân sự trong doanh nghiệp. Nội dung đề tài tôi sẽ trình bày bao gồm các phần như sau: Chương 1: Trình bày những khái niệm cơ bản về nhật ký sự kiện, khai phá quy trình và những kiến thức khác liên quan đến đề tài. Chương 2: Trình bày về khai phá mạng xã hội bao gồm những khái niệm cơ bản, các độ đo trong trích xuất đồ thị quan hệ xã hội và phân tích mạng xã hội. Chương 3: Cải thiện độ đo trong trích xuất đồ thị quan hệ xã hội. Chương 4: Cài đặt và thực nghiệm.

1.1. Tổng quan về Nhật ký sự kiện hoạt động doanh nghiệp

Giả sử rằng các hệ thống thông tin doanh nghiệp lưu trữ lịch sử hoạt động của doanh nghiệp trong nhật ký sự kiện (event log)dưới dạng các bản ghi có cấu trúc gọi là sự kiện (event). Các sự kiện ghi trong nhật ký sự kiện thỏa mãn những tính chất sau[2]: - Mỗi sự kiện tương ứng với một trường hợp (case), một thể hiện quy trình hoạt động. - Mỗi sự kiện tương ứng với một hoạt động(activity), một bước nào đó trong một thể hiện quy trình hoạt động. - Mỗi sự kiện tương ứng có một người thực thi (performer hoặc resource). - Trong cùng một trường hợp, các sự kiện được ghi lại theo đúng trình tự thực hiện về thời gian. Để hiểu rõ hơn về các khái niệm trường hợp, hoạt động, người thực thi, ta xét ví dụ sau về một quy trình tuyển dụng như Hình 1. Sơ đồ quy trình tuyển dụng Quy trình tuyển dụng bao gồm các bước  Bước 1: Trưởng phòng nhân sự lên kế hoạch tuyển dụng.  Bước 2: Bộ phận nhân sự (HumanResource -HR) đăng tin tuyển dụng.

1.2. Khái niệm cơ bản về Khai phá quy trình Process mining

Sử dụng đầu vào là nhật ký sự kiện, mục tiêu của khai phá quy trình (Process mining)là trích xuất thông tin về các quy trình [3], qua đó phát hiện, xây dựng và cải tiến quy trình để nâng cao hiệu suất làm việc của doanh nghiệp. Trong phát hiện quy trình, yếu tố con người được bỏ qua, và chúng ta chỉ quan tâm đến thứ tự thực hiện của các hoạt động trong các trường hợp. Để minh họa cho khái niệm khai phá quy trình, xét ví dụ với một nhật ký sự kiệntổng quát như trong Bảng 1.1 Một ví dụ nhật ký sự kiện tổng quát Trường hợp Hoạt động Người thực thi 1 A An 2 A An 3 A Mai 3 B Chi 1 B Duy 1 C An 2 C Duy 4 A Mai 2 B An 2 D Minh 5 A Mai 4 C Chi 1 D Minh 3 C Mai 3 D Minh

II. Hướng dẫn Khai phá mạng xã hội từ bản ghi sự kiện

Khác với khai phá quy trình, khai phá mạng xã hội nhằm tới mục tiêu hỗ trợ nhà quản trị đưa ra các quyết định về mặt nhân sự trong doanh nghiệp. Do đó, thay vì tập trung vào thứ tự thực hiện của các hoạt động, khai phá mạng xã hội khai thác mối quan hệ giữa các cá nhân, nhóm người tham gia vào quy trình trích xuất được từ nhật ký sự kiện. Quá trình khai phá mạng xã hội trải qua hai bước. Đầu tiên, đồ thị quan hệ xã hội (sociogram) giữa các cá nhân tham gia vào quy trình hoạt động của doanh nghiệp được trích xuất từ nhật ký sự kiện. Sau đó, đồ thị quan hệ xã hội được sử dụng làm đầu vào cho phân tích mạng xã hội, tổng hợp dữ liệu và biểu diễn dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau, thuận tiện hơn cho việc ra quyết định.

2.1. Trích xuất đồ thị quan hệ xã hội Sociogram từ Event Logs

Từ góc nhìn toán học, đồ thị quan hệ xã hội là đồ thị G(P, R) trong đó[1]  P: tập các nút của đồ thị, tương ứng tập những người thực thi các hoạt động trong các bản ghi sự kiện.  R ⊆ P × P là tập các mối quan hệ giữa những người thực thi. Tùy thuộc vào yêu cầu phân tích mà đồ thị có thể có hướng hoặc vô hướng, có trọng số hoặc không có trọng số. Nếu đồ thị G có trọng số, G có một hàm W dùng để gán giá trị cho các phần tử của R. Tập P có thể được xác định trực tiếp từ các bản ghi sự kiện. Tuy nhiên, R và W thì có nhiều tiêu chí khác nhau để xác định. Ví dụ, ta có thể coi giữa những người trong cùng một phòng ban trên cây cơ cấu tổ chức là có mối liên hệ với nhau. Trong cùng phòng ban đó, những người làm việc cùng một nhóm nhỏ sẽ có mối liên hệ mạnh hơn so với những người cùng phòng ban nhưng khác nhóm. Những người có cùng vai trò trong công việc hay có sự chuyển giao công việc cho nhau cũng được coi là có mối liên hệ với nhau(ta gọi đó là mối quan hệ chuyển giao công việc – Transfer of work)

2.2. Các độ đo quan trọng trong xây dựng đồ thị quan hệ xã hội

Để xây dựng được đồ thị quan hệ xã hội, chúng ta định nghĩa ra các độ đo khác nhau nhằm đánh trọng số cho các cung thể hiện mối quan hệ giữa những người thực thi. Gọi trọng số trên cung nối giữa người thực thi i và j là Wi,j. Nếu Wi,j>= τ nào đó (τ là giá trị ngưỡng) thì ta thêm cung ịj vào tập R. Bằng cách đó, chúng ta có được đồ thị G (P, R, W) có thể dùng làm đầu vào cho các công cụ phân tích mạng xã hội. Trong luận văn này, tôi chỉ trình bày ba loại độ đo có thể được trích xuất từ nhật ký sự kiện [1][2]: (1) Độ đo dựa trên quan hệ nhân quả

2.3. Tổng quan về Phân tích mạng xã hội Social Network Analysis

Phân tích mạng xã hội (Social Network Analysis: SNA) là chiến lược nghiên cứu cấu trúc xã hội thông qua lý thuyết mạng và đồ thị[5]. Cách tiếp cận của SNA là coi mạng xã hội như một đồ thị với các nút (thể hiện cho các tác tử, cá nhân trong mạng) và các cạnh thể hiện mối quan hệ giữa những nút mạng, để từ đó tổng hợp dữ liệu và biểu diễn dưới nhiều khía cạnh, góc nhìn khác nhau. Ví dụ, cùng là dữ liệu về hoạt động của một cá nhân trên mạng xã hội facebook, chúng ta có thể đưa ra đồ thị thể hiện mối quan hệ bạn bè trong mạng với nút trung tâm là cá nhân đó, hay đồ thị thể hiện mối quan tâm của cá nhân đó với các loại sản phẩm hàng hóa thông qua dữ liệu tương tác của cá nhân với các mẫu quảng cáo trên facebook…

III. Cải thiện độ đo Tối ưu hóa đồ thị quan hệ xã hội

Trong những phần trước, tôi đã trình bày các độ đo trong xây dựng đồ thị quan hệ xã hội. Trong các độ đo đó, ta thấy rằng các hoạt động được đánh giá ngang hàng với nhau, không phụ thuộc vào tính chất hay bất kỳ thuộc tính nào khác của hoạt động cũng như của sự kiện. Điều này không sát với thực tế hoạt động của doanh nghiệp. Các hoạt động khác nhau có thời gian thực hiện, mức độ quan trọng cũng như mức độ trao đổi cần thiết để thực thi khác nhau, do đó trên thực tế, mối quan hệ giữa các cá nhân phát sinh từ hoạt động cũng có độ mạnh yếu khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi tính chất của các hoạt động.

3.1. Vấn đề tồn tại trong độ đo hiện tại và cách giải quyết

Như vậy, trên thực tế, mối quan hệ giữa người phỏng vấn và người lựa chọn ứng viên mạnh hơn mối quan hệ giữa người lên kế hoạch tuyển dụng và người đăng tin tuyển dụng. Tuy nhiên, khi xây dựng đồ thị quan hệ xã hội theo các độ đo đã trình bày ở trên (giả sử chúng ta dùng độ đo dựa trên sự chuyển giao công việc) thì hai mối quan hệ này có độ mạnh ngang nhau. Từ ví dụ trên cho thấy việc đánh giá đồng nhất, ngang hàng các hoạt động trong khai phá mạng xã hội từ dữ liệu doanh nghiệp chưa thực sự phù hợp với thực tế hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì vậy, dựa trên các độ đo có sẵn, trong đề tài của mình tôi xin được đề xuất giải pháp cải thiện các độ đo trong xây dựng đồ thị quan hệ xã hội. Trong giới hạn đề tài của mình, tôi chỉ tập trung khắc phục nhược điểm trên độ đo dựa trên sự chuyển giao công việc.

3.2. Giải pháp Đánh trọng số cho các hoạt động trong quy trình

Như đã trình bày vấn đề ở phần trên, vấn đề cơ bản với độ đo dựa trên mối quan hệ chuyển giao công việc hiện tại là đang đánh giá đồng nhất, ngang hàng các hoạt động trong quy trình. Do đó, để tăng tính chính xác khi xây dựng đồ thị quan hệ xã hội, có hai vấn đề cần phải được giải quyết:  Đánh lại trọng số cho các hoạt động trong quy trình  Đưa trọng số vào công thức độ đo

3.3. Công thức đánh trọng số và ứng dụng vào độ đo

Với độ đo dựa trên sự chuyển giao công việc, bản chất mối quan hệ xuất phát từ việc các cá nhân phải trao đổi thông tin với nhau trong quá trình chuyển giao và trong lúc thực thi công việc được chuyển giao. Tôi xin trình bày hướng tiếp cận của mình trong việc đánh trọng số hoạt động áp dụng cho độ đo dựa trên sự chuyển giao công việc. Cách đánh trọng số tôi sẽ trình bày dựa trên nhận xét cơ bản như sau: - Khi một hoạt động càng cần nhiều thời gian để thực thi thì khả năng cao khi chuyển giao càng cần nhiều sự trao đổi. - Cùng một loại hoạt động nhưng giữa những lần chuyển giao khác nhau, thời gian thực thi và nhu cầu trao đổi có thể khác nhau.

IV. Thực nghiệm Cài đặt và đánh giá hiệu quả giải pháp

Như đã trình bày trong phần mở đầu, đề tài nghiên cứu của tôi dựa trên nghiên cứu phân tích mạng xã hội của các tác giả WMP Van der Aalst và Minseok Song [1]. Các tác giả đã phát triển và giới thiệu công cụ MiSoN7 dùng trong khai phá mạng xã hội. Đây cũng là nền tảng để tôi cài đặt giải pháp cho bài toán đặt ra trong đề tài của mình. Trong phần này, tôi xin trình bày sơ lược về cấu trúc của công cụ MiSoN và thiết kế, cài đặt, cũng như kết quả thực nghiệm của tôi theo giải pháp đã trình bày ở chương 3.

4.1. Giới thiệu về Công cụ MiSoN Mining Social Network

MinSoN (Mining Social Network) là công cụ được phát triển bởi nhóm tác giả WMP Van der Aalst và Minseok Song dùng cho mục đích khai phá mạng xã hội giữa các cá nhân trên cơ sở dữ liệu từ các hệ thống thông tin doanh nghiệp bao gồm các hệ thống quản lý luồng công việc như Staffware, InConcert, MQSeries, ERP , CRM. Từ các bản ghi sự kiện thu được từ các hệ thống nói trên, MiSoN xây dựng lên đồ thị quan hệ xã hội. Đồ thị thu được có thể được sử dụng làm đầu vào cho phân tích mạng xã hội.

4.2. Cấu trúc và Thiết kế lớp cài đặt độ đo chuyển giao công việc

Gần đây, MiSoN đã được tích hợp thành module SocialNetwork trong ProM framework8. Dựa trên cấu trúc thiết kế hiện tại của ProM cũng như MiSoN, trong phần này tôi xin trình bày chi tiết thiết kế và cài đặt của giải pháp tôi đã đưa ra ở phần 3. Do phạm vi đề tài của tôi chỉ tập trung cải thiện độ đo dựa trên mối quan hệ chuyển giao công việc nên trong phần thiết kế chi tiết, những lớp và package chỉ liên quan đến khai phá mạng xã hội nói chung, không liên quan trực tiếp đến độ đo này tôi xin không trình bày cụ thể. Sơ đồ thiết kế lớp cài đặt cho độ đo chuyển giao công việc được trình bày như trong hình 4.

4.3. Kết quả thực nghiệm sau khi đánh trọng số hoạt động

Tôi thử nghiệm cài đặt với một tệp nhật ký sự kiện đơn giản để thấy được sự khác nhau sau khi thêm trọng số hoạt động vào trong độ đo. Kết quả thực nghiệm cho thấy sau khi đánh trọng số cho các hoạt động trong quy trình, độ mạnh yếu trong mối mối quan hệ trong đồ thị thu được đã có sự phân cấp rõ ràng, chịu ảnh hưởng theo tính chất của hoạt động.

V. Kết luận Giá trị và hướng phát triển của Khai phá MXH

Luận văn được phát triển dựa trên đề tài nghiên cứu của các tác giả WMP Van der Aalst và Minseok Song [1] về việc áp dụng khai phá mạng xã hội trong môi trường doanh nghiệp với dữ liệu là nhật ký sự kiện ghi cung cấp bởi các hệ thống thông tin doanh nghiệp. Thông qua việc tìm hiểu, phân tích các độ đo trong xây dựng đồ thị quan hệ xã hội, luận văn đã chỉ ra điểm yếu trong các độ đo xây dựng đồ thị quan hệ xã hội hiện tại cũng như đề xuất phương hướng cải tiến, khắc phục điểm yếu đó trên độ đo dựa trên mối quan hệ chuyển giao công việc.

5.1. Tổng kết giá trị và đóng góp của luận văn

Giải pháp được trình bày trong luận văn là đánh trọng số cho các hoạt động trong quy trình dựa trên yếu tố thời gian thực thi của hoạt động. Nhận xét cơ bản định hướng cho giải pháp cho bài toán cải thiện độ đo: thông thường, hoạt động càng cần nhiều thời gian thực thi thì càng cần có nhiều trao đổi và mối quan hệ giữa các cá nhân tham gia càng mạnh. Các thuật toán cải thiện độ đo đã được cài đặt và tiến hành thực nghiệm với một bộ dữ liệu đơn giản như một minh họa cho giải pháp đã được đưa ra.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo và ứng dụng thực tiễn

Hướng nghiên cứu tiếp theo của luận văn là nghiên cứu đưa ra giải pháp cho các độ đo khác trong xây dựng đồ thị quan hệ xã hội (độ đo dựa trên quan hệ thầu phụ, độ đo dựa trên trường hợp chung, độ đo dựa trên các hoạt động chung). Đồng thời, giải pháp hiện tại cũng cần được áp dụng trên dữ liệu của các doanh nghiệp khác nhau để có thể kiểm chứng tính hiệu của giải pháp cũng như có phương hướng điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Những khái niệm cơ bản về nhật ký sự kiện và khai phá quy trình Trong luận văn này, tôi sử dụng các bản ghi sự kiện lấy được từ các hệ thống thông tin doanh nghiệp, kết hợp với phân tích quy trình như đầu vào đã biết cho khai phá mạng xã hội. Vì vậy, trước khi trình bày về khai phá mạng xã hội cũng như việc ứng dụng khai phá mạng xã hội trong môi trường doanh nghiệp, tôi xin trình bày một vài khái niệm và lý thuyết liên quan bao gồm: khái niệm nhật ký sự kiện (event log) và khai phá quy trình(process mining). Khái niệm nhật kýsự kiện Giả sử rằng các hệ thống thông tin doanh nghiệp lưu trữ lịch sử hoạt động của doanh nghiệp trong nhật ký sự kiện (event log)dưới dạng các bản ghi có cấu trúc gọi là sự kiện (event).

Các sự kiện ghi trong nhật ký sự kiện thỏa mãn những tính chất sau[2]: - Mỗi sự kiện tương ứng với một trường hợp (case), một thể hiện quy trình hoạt động. - Mỗi sự kiện tương ứng với một hoạt động(activity), một bước nào đó trong một thể hiện quy trình hoạt động. - Mỗi sự kiện tương ứng có một người thực thi (performer hoặc resource). - Trong cùng một trường hợp, các sự kiện được ghi lại theo đúng trình tự thực hiện về thời gian.

Để hiểu rõ hơn về các khái niệm trường hợp, hoạt động,người thực thi, ta xét ví dụ sau về một quy trình tuyển dụng như Hình 1. Sơ đồ quy trình tuyển dụng Quy trình tuyển dụng bao gồm các bước  Bước 1: Trưởng phòng nhân sự lên kế hoạch tuyển dụng.  Bước 2: Bộ phận nhân sự (HumanResource -HR) đăng tin tuyển dụng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12  Bước 3: Ứng viên nộp hồ sơ ứng dụng.

 Bước 4: HR liên hệ với ứng viên để sắp xếp lịch phỏng vấn.  Bước 5: Trưởng bộ phận/HR v. phỏng vấn ứng viên.  Bước 6: Trưởng bộ phận/HR v.

đánh giá kết quả phỏng vấn và lựa chọn ứng viên phù hợp.  Bước 7: HR thông báo kết quả tuyển dụng cho ứng viên. Trong ví dụ này, mỗi lần tuyển dụng tương ứng là một trường hợp. Các bước trong quy trình tuyển dụng (1, 2,., 6, 7) là các hoạt động.

Trưởng phòng nhân sự, HR, ứng viên, trưởng bộ phận… là những người thực thi. Khai phá quy trình Sử dụng đầu vào là nhật ký sự kiện, mục tiêu của khai phá quy trình (Process mining)là trích xuất thông tin về các quy trình [3], qua đó phát hiện, xây dựng và cải tiến quy trình để nâng cao hiệu suất làm việc của doanh nghiệp. Trong phát hiện quy trình, yếu tố con người được bỏ qua, và chúng ta chỉ quan tâm đến thứ tự thực hiện của các hoạt động trong các trường hợp. Để minh họa cho khái niệm khai pháquy trình, xét ví dụ với một nhật ký sự kiệntổng quát như trongBảng 1.1 Một ví dụ nhật ký sự kiện tổng quát Trường hợp Hoạt động Người thực thi 1 A An 2 A An 3 A Mai 3 B Chi 1 B Duy 1 C An 2 C Duy 4 A Mai 2 B An 2 D Minh 5 A Mai 4 C Chi 1 D Minh 3 C Mai 3 D Minh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 4 B Mai 5 E Nga 5 D Nga 4 D Minh Sắp xếp lại theo từng trường hợp, chúng ta có Bảng 1.2 Nhật ký sự kiện tổng quát đã sắp xếp theo từng trường hợp Trường hợp Hoạt động Người thực thi 1 A An 1 B Duy 1 C An 1 D Minh 2 A An 2 C Duy 2 B An 2 D Minh 3 A Mai 3 B Chi 3 C Mai 3 D Minh 4 A Mai 4 C Chi 4 B Mai 4 D Minh 5 A Mai 5 E Nga 5 D Nga Quan sát ví dụ trên ta thấy: - Mỗi trường hợp đều bắt đầu với hoạt động A và kết thúc bằng hoạt động D.

- Giữa A và D có thể là E hoặc B và C. - B và C không có thứ tự thực hiện cố định. Áp dụng thuật toán alpha1, chúng ta có thể biểu diễn mô hình thể hiện mối quan hệ về mặt thứ tự thực hiện giữa các hoạt động dưới dạng lưới Petri2 như trong Hình 1.org/wiki/Alpha_algorithm 2 https://en.org/wiki/Petri_net TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sơ đồ quy trình dạng lưới Petri cho nhật ký sự kiện tổng quát Trong luận văn này, tôi tập trung vào khía cạnh xã hội (tức mối quan hệ giữa các cá nhân) của nhật ký sự kiện.

Vì vậy, các khái niệm cụ thể trong khai phá quy trình, thuật toán và ký pháp biểu diễntôi sẽ không trình bày chi tiết. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Chương 2. Khai phá mạng xã hội Khác với khai phá quy trình, khai phá mạng xã hội nhằm tới mục tiêu hỗ trợ nhà quản trị đưa ra các quyết định về mặt nhân sự trong doanh nghiệp.Do đó, thay vì tập trung vào thứ tự thực hiện của các hoạt động, khai phá mạng xã hội khai thác mối quan hệ giữa các cá nhân, nhóm người tham gia vào quy trình trích xuất được từ nhật ký sự kiện. Quá trình khai phá mạng xã hội trải qua hai bước.

Đầu tiên, đồ thị quan hệ xã hội (sociogram) giữa các cá nhân tham gia vào quy trình hoạt động của doanh nghiệp được trích xuất từ nhật ký sự kiện. Sau đó,đồ thị quan hệ xã hội được sử dụng làm đầu vào cho phân tích mạng xã hội, tổng hợp dữ liệu và biểu diễn dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau, thuận tiện hơn cho việc ra quyết định. Trích xuất đồ thị quan hệ xã hội từ các bản ghi sự kiện Từ góc nhìn toán học, đồ thị quan hệ xã hội là đồ thị G(P, R) trong đó[1]  P:tập các nút của đồ thị, tương ứng tập những người thực thi các hoạt động trong các bản ghi sự kiện.  R ⊆ P × P là tập các mối quan hệ giữa những người thực thi.

Tùy thuộc vào yêu cầu phân tích mà đồ thị có thể có hướng hoặc vô hướng, có trọng số hoặc không có trọng số. Nếu đồ thị G có trọng số, G có một hàm W dùng để gán giá trị cho các phần tử của R. Tập P có thể được xác định trực tiếp từ các bản ghi sự kiện. Tuy nhiên, R và W thì có nhiều tiêu chí khác nhau để xác định.

Ví dụ, ta có thể coi giữa những người trong cùng một phòng ban trên cây cơ cấu tổ chức là có mối liên hệ với nhau. Trong cùng phòng ban đó, những người làm việc cùng một nhóm nhỏ sẽ có mối liên hệ mạnh hơn so với những người cùng phòng ban nhưng khác nhóm. Những người có cùng vai trò trong công việc hay có sự chuyển giao công việc cho nhau cũng được coi là có mối liên hệ với nhau(ta gọi đó là mối quan hệ chuyển giao công việc – Transfer of work) Theo ngôn ngữ của khai phá quy trình, giả sử trong cùng một trường hợp C, nếu hoạt động A2 được thực hiện ngay sau hoạt động A1 thì mối quan giữa người thực thi A1 và A2 được gọi là quan hệ chuyển giao công việc. Nhìn chung, mối quan hệ chuyển giao công việc phản ánh khá chính xác mối quan hệ trong thực tế hoạt động của doanh nghiệp.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Quay lại với ví dụ nhật ký sự kiện trong Bảng 1.1, ta có nhận xét như sau: - Chi và Duy có thể thực hiện các hoạt động như nhau (B và C) - Duy thì luôn làm việc với An (trường hợp 1 và 2), còn Chi thì lại luôn làm việc với Mai (trường hợp 3 và 4). Như vậy, mặc dù có thể Chi và Duy có cùng vai trò nhưng Chi không làm việc với An và Duy không làm việc với Mai. Lập luận tương tự, dựa trên mối quan hệ chuyển giao công việc, từ nhật ký sự kiệnBảng 1.1, ta có thể trích xuất ra đồ thị quan hệ xã hội như Hình 2. Đồ thị quan hệ xã hội trích xuất từ nhật ký sự kiện Bảng 1.1 Trong đồ thị trên Hình 2.1, giữa An và Duy, Mai và Chi có sự chuyển giao công việc qua lại.

Tuy nhiên giữa Mai và Minh chỉ có sự chuyển giao công việc từ Mai sang Minh mà không có chiều ngược lại. Tương tự với mối quan hệ giữa An và Minh, Mai và Nga. Đồ thị trên là đồ thị không có trọng số, tuy nhiên, để phục vụ cho việc phân tích mạng xã hội, trọng số có thể được thêm vào đồ thị. Trọng số được đánh căn cứ vào tần suất chuyển giao công việc, ví dụ, cung từ An tới Duy có trọng số là 2.

Các độ đo trong xây dựng đồ thị quan hệ xã hội Để xây dựng được đồ thị quan hệ xã hội, chúng ta định nghĩa ra các độ đo khác nhau nhằm đánh trọng số cho các cung thể hiện mối quan hệgiữa những người thực thi. Gọi trọng số trên cung nối giữa người thực thi i và j là Wi,j. Nếu Wi,j>= τ nào đó (τ là giá trị ngưỡng) thì ta thêm cung ịj vào tập R. Bằng cách đó, chúng ta có được đồ thị G (P, R, W) có thể dùng làm đầu vào cho các công cụ phân tích mạng xã hội.

Trong luận văn này, tôi chỉ trình bày ba loại độ đo có thể được trích xuất từ nhật ký sự kiện [1][2]: (1) Độ đo dựa trên quan hệ nhân quả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.E = A×P là tập hợp các sự kiện có thể xảy ra. Khi đó: - Mỗi sự kiện được định nghĩa dưới dạng một cặp giá trị (a, p) thể hiện hoạt động a được thực hiện bởi p. - C = E* là tập các chuỗi sự kiện có thể (mỗi chuỗi sự kiện tương ứng với một trường hợp). - B(C) là tập các túi từ trên C.

- L ⊆ B(C) là một nhật ký sự kiện và là tập con của C. Với sự kiện e(a, p) ta định nghĩa hai phép toán - 𝜋a (e) = a - 𝜋p(e) = p 2. Độ đo dựa trên quan hệ nhân quả Độ đo dựa trên quan hệ nhân quả phản ánh cách luồng công việc di chuyển giữa các cá nhân trong từng trường hợp. Tính nhân quả thể hiện trong hai loại mối quan hệ mà chúng ta sẽ sử dụng làm độ đo trong phần này: quan hệ chuyển giao công việc (Handover of work) và quan hệ thầu phụ (Sub-contracting).

Quan hệ chuyển giao công việc: Trong cùng một trường hợp, nếu có một hoạt động thực hiện bởi j được thực hiện ngay sau hoạt động thực hiện bởi i thì ta nói ở đây có sự chuyển giao công việc từ i sang j.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ