PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tinh cấp thiết của đề tai Trong hoạt động thực tiễn, việc nhận thức đúng hiện thực để cải biến theo hướng có lợi cho con người là một yêu cầu luôn được đặt lén hang dau. Quá trình nhận thức ấy là một quá trình biện chứng trải qua nhiều giải đoạn, mà trong đó khái niệm là một mat khâu quan trong, bởi vì khái niệm vừa là kết quả của su phản anh thé giới khách quan của con người, vừa là phương tiên lý luận để con người tiếp tục nhận thức và cải tạo thé giới ấy. Hiện nay, thực tiễn có những biến đổi sâu sac với tốc độ nhanh chồng, đó là điểu kiện để ra đời một loạt những khái niệm khoa học mới.
Chính vì vậy, chúng ta can phải nắm vững, phát triển và áp dụng những khái niệm mới này một cách linh hoạt vào công cuộc đổi mới, nhất là trong diéu kiện dang xuất hiện một nền kinh tế mới- "kinh tế tri thức” (knowledge economy). Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), nên kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó “su sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức của con người đóng vai trò quyết định nhất đối với su phat triển kinh tế, tạo ra của cải, nang cao chất lượng cuộc sống ”[3I,120]. Đại hội Đại biểu toàn quốc của Dang Cong sản Việt Nam lần thứ IX (19/4-22/4/2001) cũng chỉ rõ: "Vốn quý nhất, động lực quan trọng nhất cho su phát triển kinh tế là tri thức.Sự sáng tạo, đổi mới thường xuyên, học tập suối đời là những yêu cầu của kinh tế tri thức.Phát huy lợi thế của đất nước, gắn cong nghiệp hóa với hiện đại hóa trong từng bước tiếp can với kinh tế tri thức"[30,47]." Đề thích ứng với đồi hỏi trình độ tri thức cao, thường xuyên đổi mới, sáng tạo, trong nén kinh tử trí thức, mỗi người đều phải học tap thường xuyên, học tập suốt đời, học ở nhà trường, học trong công việc, vừa học vừa làm, mọi người phải thường xuyên được bổ túc, cập nhật kiến thức, trau dỏi kỹ năng, phát triển trí sáng tao, chủ động theo kip sự đổi mới và có khả nang thúc day sự đổi mới" [30,41]. Lịch sử nhận thức nhân loại cho thấy: việc làm chủ các khái niệm khoa học có vai trò vỏ cùng quan trọng đổi với hoạt động thực liên.
Để làm tốt công việc này, trước hết cần phải xác định xem các khái niệm được hình thành theo những qui luật nào, bằng cách nào con người nắm bat được khái niệm nhanh và chính xác. Và logic học đã đứng ra gánh vác sứ mang này. Logic học chi ra rang: thể giới mà con người đang nhận thức và tác động là mot thé giới luôn vận động. biến đổi và phát triển không ngừng, nên muốn phản ánh trung thực thé giới, khái niệm cũng bude phải van động và biến đổi theo những quy luật của quá trình vận động ấy.
Bởi vay, viếc thấu hiểu logic của sự hình thành, phát triển khái niệm sẽ giúp đỡ rất nhiều trong việc nang cao năng lực tư duy khoa học, phục vụ cho quá trình nhận thức của con người một cách tích cực hơn. sự cần thiết của việc nghiên cứu khái niệm không phải déu được chúng ta đánh giá đúng và day đủ. Có không ít người cho rang: đó là một vấn dé thuần túy lý thuyết và xa rời thực tế. Thiết nghĩ, nếu không có khát niệm sẽ không thể có các ngành khoa học, và như vậy cũng đồng nghĩa với tinh trang thiểu văng tri thức.
Vì vay, nghiên cứu sinh đã chọn vấn để "Lágic của sw hình thành, phát triển khái niệm” làm dé tài cho luận án của minh. Tinh hình nghiên cứu đề tải Khái niệm, với tư cách là một hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, luôn là đổi tượng của nhận thức luận và logic học. Vi vậy, quan điểm về su hình thành, phát triển khái niệm năm ở hấu hết các luận thuyết triết học, thường được xem xét trẻn hai bình điện: logic hình thức va logic biến chứng. Từ thời cổ dai, sự hình thành khái niêm đã gan với tên tuổi của AriXIÔI (384-322 trCN).
Ông dé cập tới nhận thức như một quá trình, từ cảm giác đơn lẻ đến lý tính, từ khái niệm đến phạm trù, quy luật. Đồng thời ông cũng khang định tính bất biến của khái niệm. Arixtét được coi là ông tổ của lögic hoc hình thức, và lý luận về khái niệm là một đóng góp quan trọng của ông. Tuy nhiên, Arixtôt chưa phân tích đến sự vận động và phát triển của khái niệm.
Héghen (1770-1831) với tư tưởng biển chứng thiên tải, lại rất quan tam tới vấn dé đó. Hệ thống triết học để số của ông là cả một sự minh chứng cho quá trình vận động và phát triển của khái niệm. Có thể nói Héghen là người nghiên cứu về khái niệm tương đối sâu sac, nhưng dang tiếc là ông đã giải thích quá trình hình thành khái niệm trên quan điểm duy tam. Tìm trong logic biến chứng của Héghen những tư tưởng quỷ bau.
Mac và Angghen đã phát triển lên thành logic biện chứng duy vật, được bố sung qua nhiều tác phẩm của Lénin, trong đó. khái niệm được đành mot vị trí xứng đáng, đặc biệt là trong các tác phẩm "Chủ nghĩa duy vat và chủ nghĩa kink nghiệm phê phán”, "But ky triết học”. Các nhà logic học Xô viết và thể giới cũng nghiên cứu nhiều vẻ khái niệm như Đ.Mét trong những xu hướng nghiên cứu được quan tâm là xem logic với tu cách như những moi liên hệ tất yếu, có tính quy luật của các quá trình, các hiện tượng. Như vậy, có thể xem lôgic của sự hình thành khái niệm là những moi liên hệ tất yếu, có tính quy luat của qua trình hình thành nẻn khá niệm ấy (xem 71,90,113,114,161,162,163.
Ở xu hướng nay. các nhà nghiên cứu thường phá bỏ quan niệm cho rảng khái niệm là hình thức thấp nhất của giai đoạn nhân thức lý tính, dưới phán đoán và suy luận: mà khái niém được hình thành qua nhiều cấp độ, có thể phải qua nhiều phán đoán và suy lý khác nhau (xem 113). Cũng có xu hướng cho rang sự hình thành khái niệm gần với sự hình thành nên thuật ngữ, hoặc quá trình này trùng hợp với quá trình tạo lập ngôn ngữ của loài người từ buổi bình minh, cũng như của đứa trẻ khi bắt đầu tập nói (xem 105,120.) Một xu hướng nữa quan niệm légic của sự hình thành khái niệm la cơ chế, là quy trình, là tính tuần tự của các thao tác tư duy kế tiếp nhau dé đi đến khái niệm ấy, hay là những yếu tổ cần và đủ cho sự ra đời của một khái niệm (xem 118). Khái niệm cũng là một trong những đổi tượng xem xét của triết học phương Tây hiện đại: chủ nghĩa thực dụng chủ yếu tìm kiểm khái niệm ở góc độ hiệu quả, tính hữu ích của nó; chủ nghĩa thao tác cho ý nghĩa của khái niệm đồng nhất với một tập hợp những thao tác khoa học; còn chủ nghĩa hau cấu trúc lại phủ nhận sự tồn tại và phát triển của khái niệm, dẫn đến thuyết phi khái niệm (xem 165), hoặc tìm mọi cách để hạ thấp vai trò của khái niệm, Các nhà nghiên cứu légic của Việt Nam đã tiếp thu những mat tích cực dựa trên quan điểm của lỏgic biện chứng duy vật.
song bàn riêng về khái niêm thì hiện vẫn chưa có một công trình độc lập nao, Vấn dé khai niệm và sự hình thành. phát triển của khái niệm đã được dé cap đến trong mỗi số tài liệu về légic học của các tác giả: Tô Duy Hợp, Bùi Thanh Quất, Vũ Văn Viên, Lại Văn Toàn, Pham Thị Ngọc Tram, Vương Tất Dat, Nguyễn Ngọc Ha, Lê Từ Thành. Dang chú ý là một số bai bao và luận án sau: - "§ự hình thành và phát triển của khái niệm" của Vũ Văn Viên. -" Khai niệm với tinh cách một vấn để triết học” của Bùi Thanh Quất và Nguyễn Ngoc Hà.
- “Mot số luận điểm cơ bản của Lénin về định nghĩa khái niệm" của Nguyễn Như Hải. - “Tính phức tap trong việc sử dung các thuật ngữ triết hoc” của Nguyễn Ngọc Hà. - “Khái niệm với tu cách là một hình thức cơ bản của nhận thức" của Nguyễn Manh Cương. - "C ơ sử khá ch qua n cho sự hìn h thà nh nhữ ng khá i niê m đầu tiê n của todn hoc" của Lé Van Đoán.
- "Ban về cơ sở lý luận của đường lối lĩnh hat khái niệm” của Phạm Hoàng Gia. - "Hệ thống khái niệm va phương phdap hình thành khải niệm trong giáo trình địa lệ kinh tế các nước ở lớp 10 và TT" của Nguyễn Giang Tiên. - "Nâng cao chất lượng hình thành và phát triển các khái niềm trong chương trình sinh vật học đại cương lop 9 và 10 phổ thông" của Tran Bá Hoành. Từ việc phân tích tình hình nghiên cứu lịch sử van dé, có thể rút ra kết luận sau: Van dé khái niệm đã được dé cập đến từ rất lâu và có những quan điểm trái ngược nhau, thậm chí là máu thudn gay gat.
Xét riêng về logic của sự hình thành, phát triển khái niém có thể thấy day 14 một vấn dé còn để ngo và chưa được hệ thống hoá. Bởi vậy, luận án cỗ gắng tìm hiểu và sap xếp các quan niệm sao cho được tập trung hơn. Mục đích, nhiệm vu, phạm vi nghiên cứu của đẻ tai Muc đích của luận án là tìm hiểu một số đặc điểm mang tính quy luật của quá trình hình thành, phát triển khái niệm, trên cơ sở đó, để xuất một vài giải pháp nâng cao năng lực tiếp nhận và vận dụng khái niệm trong môi trường sư phạm của chúng ta hiện nay. Để thực hiện mục đích trên, luận án phải giải quyết ba nhiềm vụ sau: 1) Khái quát các quan điểm về logic hình thành, phát triển của khái niệm trong lịch sử triết học.
2) Trình bày quan điểm duy vật biện chứng về logic của sự hình thành, phát triển khái niệm. 3) Trên cơ sở của logic hình thành, phát triển khái niệm, luận án phan tích một số đặc thù của sự hình thành, phát triển khải niệm trong mỗi trường sư phạm và để xuất một số giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả những quy luật ay. Pham vi nghiên Cửu: Tuỳ vào cách tiếp cận mà khái niệm được chia thành rất nhiều loại, theo nhiều tiêu chí khác nhau nên việc tìm hiểu lögic của sự hình thành, phát triển khái niệm cũng có thể được xét theo các hệ quan điểm khác nhau. Bên cạnh logic chung, mỗi loại khái niệm lại có một logic hình thành, phát triển riêng.