ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi bò sữa đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của người dân và chính phủ Việt Nam. Theo thời gian, quy mô chăn nuôi bò sữa ở nước ta dần được phát triển ngày càng rộng dãi trên các vùng miền của cả nước như Hà Nội, Sơn La, Nghệ An, Lào Cai…, đến năm 2014 là 200. Với thành phố Hà Nội hiện nay, là thủ đô đang trên đường công nghiệp hóa hiện đại hóa, song lại có phong trào phát triển chăn nuôi rất mạnh, và chăn nuôi bò sữa cũng không phải ngoại lệ. Đến 30/8/2014 tổng đàn bò sữa của Hà Nội là hơn 14 ngàn con, tăng 6,04% so với 2013.
Với mục tiêu khuyến khích nghề chăn nuôi bò sữa phát triển, tạo sản phẩm hàng hóa chất lượng, an toàn vệ sinh, song song với tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động nông thôn. Năm 2011 UBND thành phố Hà Nội đã có quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 17/6/2011 của UBND thành phố Hà Nội về phê duyệt chương trình phát triển chăn nuôi theo vùng, xã trọng diểm và chăn nuôi quy mô lớn ngoài khu dân cư thành phố giai đoạn 2011-2015. Tập trung chủ yếu tại các vùng có phong trào chăn nuôi bò sữa phát triển như Ba Vì, Quốc Oai, Gia Lâm, Đan phượng, Phúc Thọ, Đông Anh. Đối với bò sữa khu vực Ba Vì, Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói chung, trong điều kiện chăn nuôi nông hộ, các chỉ tiêu sinh sản thường kém ổn định và ở mức cao như: tuổi động dục lần đầu muộn, khoảng cách giữa hai lứa đẻ kéo dài… Bình thường bò sữa có tuổi động dục lần đầu từ 16-18 tháng tuổi và sau khi đẻ động dục trở lại trong vòng 90 ngày.
Với bò tơ trên 20 tháng và bò sau khi đẻ đến 120 ngày hoặc bò phối giống trên 3 lần mà không đậu thai được coi là chậm sinh (Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương, 1997). Ngành chăn nuôi bò sữa cần đạt tới chỉ tiêu khoảng cách 2 lứa đẻ lý tưởng là 12 tháng, trong đó chu kỳ tiết sữa kéo dài 10 tháng, thời gian còn lại là kỳ cạn sữa khoảng 2 tháng trước khi đẻ. Để đạt được chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật này bò cái cần được phối giống có chửa sau khi đẻ khoảng 80 – 90 ngày. Hiện nay, việc can thiệp khả năng chậm sinh trên bò sữa bằng hormone đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm đặc biệt, hướng đi này đã và đang 1 c được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu, áp dụng mang lại nhiều thành tựu to lớn.
Đàn bò lai HF khu vực Ba Vì nói riêng, thành phố Hà Nội nói chung đều chủ yếu chăn nuôi nông hộ, do đó có nhiều yếu tố tác động đến ảnh hưởng sinh sản ở các mức độ khác nhau (tốt hoặc xấu), song song đó là các giải pháp khắc phục hiện tượng chậm sinh cho đàn bò sữa là vấn đề được đặt ra. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sử dụng PGF2α khắc phục rối loạn sinh sản ở đàn bò lai hướng sữa tại Ba Vì - Hà Nội”. MỤC TIÊU Đánh giá được tình trạng hoạt động của buồng trứng ở bò chậm sinh, giúp người chăn nuôi có tác động đúng nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Sử dụng Prostaglandin F2α kết hợp GnRH và CIDR điều trị bệnh trên buồng trứng.
Xác định liều lượng Prostaglandin F2α thích hợp để chữa bệnh tồn lưu thể vàng trên đàn bò lai hướng sữa. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN TRÊN BÒ 2. Đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái 2.
Chu kỳ động dục Sau khi đã thành thục về tính thì tính dục của bò cái diễn ra liên tục và có tính chu kì. Chu kì động dục bò cái từ 18-24 ngày. Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002), những gia súc có chu kì động dục ngắn hơn 17 ngày và dài hơn 24 ngày thường có tỷ lệ thụ hai thấp.
Chu kì động dục ở gia súc mang tính đặc trưng theo loài và được chia làm các giai đoạn riêng biệt liên tiếp nhau: a. Giai đoạn tiền động dục (trước chịu đực): gồm các biểu hiện như ngửi bò khác, bồn chồn, tìm kiếm bò cái khác hoặc bò đực. Cố nhảy lên con khác nhưng không đứng yên khi bị bò cái khác hoặc bò đực nhảy lên lưng. Thích gần người, thỉnh thoảng kêu rống lên.
Âm hộ đỏ ướt hơi sưng phồng lên. Giảm lượng ăn vào, sữa giảm. Các biểu hiện ở giai đoạn này thay đổi nhiều và không giống nhau ở mỗi bò. Có thể kéo dài từ một vài gờ đến một ngày hoặc hơn.
Gặp các dấu hiệu này cần báo ngay cho dẫn tinh viên biết để theo dõi và quyết định việc phối giống và thời điểm phối. Trong thụ tinh nhân tạo (TTNT) không nên phối giống ở giai đoạn này vì tỷ lệ đậu thai thấp, gây tổn hại cơ quan sinh dục cái. Giai đoạn động dục (chịu đực): giai đoạn này kéo dài khoảng 6-30 giờ và có các biểu hiện như đứng yên cho bò khác nhảy lên. Bồn chồn và kêu rống thường xuyên, thích ngửi cơ quan sinh dục bò khác.
Tai dựng lên tỏ vẻ dễ gần hơn, xương sống lưng cong lên, dịch nhờn tiết ra lúc đầu lỏng sau đặc kéo thành sợi. Tính thèm ăn giảm, sữa giảm, thân nhiệt thường cao hơn 1oC. Khi TTNT thì phối tinh cho bò cái vào nửa ngày sau của giai đoạn này. Khi cho bò đực nhảy trực tiếp thì cho nhảy ngay từ nửa đầu giai đoạn bò bắt đầu chịu đực.
Thời gian động dục đứng yên phụ thuộc giống và khí hậu. Bò sữa, bò chuyên thịt thời gian này ngắn hơn so với bò địa phương. Bò HF nuôi ở xứ nóng thời gian chịu đực ngắn hơn so với nuôi ở xứ lạnh. Giai đoạn sau động dục: Sau giai đoạn động dục, một số bò tiếp tục hoạt động, chủ yếu là hoạt động thụ động.
Khoảng 1-2 ngày sau khi kết thúc giai đoạn động dục, nhiều bò có thể quan sát thấy máu chảy ra từ âm hộ. Điều này là sinh 3 c lý bình thường, không liên quan đến đậu thai hay sự rụng trứng, chỉ có ý nghĩa là bò đã động dục trước đó 1-2 ngày. Sự điều hòa nội tiết trong chu kỳ động dục Sự điều hòa hoạt động sinh dục của bò cái bằng sự phối hợp thần kinh – nội tiết trong trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng. Thông tin nội tiết được bắt đầu bằng việc tiết GnRH (Gonadotrophin Releasing Hormone) từ vùng dưới đồi (Hypothalamus), GnRH tác động làm chuyển đổi thông tin thần kinh trong não thành tín hiệu nội tiết để kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết ra 2 loại hormone là FSH (Follicle Stimulating Hormone) và LH (Luteinizing Hormone).
FSH và LH được tiết vào hệ tuần hoàn chung và được đưa đến buồng trứng, kích thích buồng trứng tiết ra Oestrogen, Progeststeron và Inhibin. Các Hormon buồng trứng này cũng có ảnh hưởng đến việc tiết GnRH, LH và FSH thông qua cơ chế tác động ngược. Progesteron chủ yếu tác động lên vùng dưới đồi để ức chế tiết GnRH, trong khi đó Oestrogen tác động lên thuỳ trước tuyến yên để điều tiết FSH và LH. Inhibin chỉ kiểm soát việc tiết FSH (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2004).
FSH (Follicle stimulating Hormone) do thùy trước tuyến Yên tiết ra kích thích nang trứng phát triển thành dạng nang trứng chín và làm tăng sinh cơ quan sinh sản và các hoạt động trao đổi chất khác phục vụ cho quá trình trứng rụng sau này. LH (Luteinizing Hormone) cũng do thùy trước tuyến Yên tiết ra, nồng độ tăng dần và đạt cao nhất để gây hiện tượng rụng trứng. Tỷ lệ (LH/FSH = 3/1) và áp lực dịch nang trứng lớn gây rụng trứng. Trong thời kì động dục, dưới tác động của FSH do tuyến yên tiết ra thì một số noãn bao buồng trứng phát triển nhanh chóng và Oestradiol được tiết ra tăng dần.
Oestradiol kích thích huyết mạch và tăng trưởng của tế bào đường sinh dục cái để chuẩn bị cho quá trình giao phối và thụ tinh. FSH và LH đều thúc đẩy sự phát triển của noãn bao đến giai đoạn cuối. Khi hàm lượng Oestradiol trong máu cao sẽ kích thích gây ra hiện tượng động dục, sau đó trứng sẽ rụng theo từng đợ sóng tăng tiết LH từ tuyến yên đồng thời kích thích vùng dưới đồi tăng tiết GnRH. Sóng LH cần cho sự rụng trứng và hình thành thể vàng vì nó kích thích trứng chín, làm tăng hoạt lực của các enzym phân giải protein để phá vỡ các mô 4 c liên kết trong vách noãn bao, kích thích noãn bao tổng hợp Prostaglandin là chất có vai trò quan trọng trong việc phá hủy thể vàng.
Trứng rụng, phần còn lại của nang trứng biệt hóa và phát triển thành thể vàng. Tổ chức nội tiết của thể vàng tiết Progesterone ức chế động dục, dưỡng phôi kích thích phát triển tuyến sữa phát triển. Trong thời gian đầu có chửa nếu nồng độ Progesterone thấp dễ gây sảy thai và nó đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ này, khi mà tuyến nhau thai chưa phát triển. Progesterone bằng con đường liên hệ ngược âm tính ức chế giải phóng các hormone sinh sản để an thai bằng cách ức chế tử cung co bóp.
Nếu trứng rụng của chu kì trước mà không được thụ tinh thì đến khoảng ngày 17-18 của chu kì sinh dục nội mạc tử cung sẽ tiết ra PGF2α, hormone này có tác dụng làm tiêu thể vàng và kết thúc pha thể vàng của chu kỳ. Kết quả là noãn bao trội tăng tiết Oestradiol và gây ra giai đoạn tiền động dục chu kì mới. Sự thụ tinh Khi con vật ở giai đoạn động dục chịu đực, noãn từ buồng trứng được phóng ra ngoài, được loa vòi trứng hút vào trong vòi trứng. Nếu có tinh trùng ở âm đạo, tinh trùng di chuyển nhanh về phía cổ tử cung, buồng tử cung và vòi trứng để gặp noãn sau đó xảy ra hiện tượng thụ tinh.
Kết quả của sự thụ tinh là sinh ra một tế bào mới gọi là hợp tử, sau này là phôi và phát triển thành một cơ thể mới khác với bố mẹ nhưng mang đặc điểm di truyền của bố, mẹ cùng với đặc điểm di truyền của loài. Quá trình mang thai Thai được tính từ ngày phối giống có kết quả đến ngày đẻ. Thời gian mang thai phụ thuộc nhiều yếu tố như: tuổi của mẹ, điều kiện chăm sóc, chế độ khai thác sử dụng, có thể là tính biệt của thai. Biến động 280-290 ngày.
Quá trình mang thai chia thành 3 thời kì cơ bản: thời kì phôi (1-34 ngày tuổi), thời kì tiền thai (35-60 ngày tuổi), thời kì bào thai (từ 61 ngày đến ngày đẻ).