Chương 1: Giới thiệu đề tài Chƣơng 1 cung cấp lý do nghiên cứu, đề cập đến mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và mô tả ngắn gọn phƣơng pháp luận, dữ liệu nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết Các lý thuyết và phân tích thực nghiệm của các nghiên cứu trƣớc có liên quan đƣợc đề cập đến trong chƣơng này. Chương 3: Khung phân tích, phương pháp và giả thuyết nghiên cứu. Kỹ thuật, phƣơng pháp luận đƣợc mô tả cẩn thận.
Mô hình ứng dụng cùng với dữ liệu đƣợc phân tích chi tiết trong chƣơng này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu 6 Chƣơng này đúc kết các đặc điểm, phân tích dữ liệu và đánh giá kết quả các ƣớc lƣợng và kiểm định liên quan. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chƣơng này nêu tóm tắt các kết quả ƣớc lƣợng và khuyến nghị chính sách. Cuối cùng, các hạn chế của đề tài cũng đƣợc nêu ra và phân tích.
7 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chƣơng này trình bày các khái niệm, bản chất của thu nhập và vị thế việc làm, những nhân tố ảnh hƣởng đến thu nhập của ngƣời lao động có vị thế việc làm khác nhau. Chƣơng cũng trình bày những nguyên nhân tạo nên khác biệt thu nhập giữa ngƣời làm công ăn lƣơng và ngƣời tự làm. Đồng thời, nhắc lại kết quả của các nghiên cứu trƣớc có liên quan đến vị thế việc làm, khác biệt thu nhập và có dùng phƣơng pháp phân rã Oaxaca – Blinder. Một số khái niệm cơ bản: 2.
Việc làm: Ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát về việc làm. Đối với từng cá nhân, có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình. Việc không có việc làm trong dài hạn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp, làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có.
Đối với nền kinh tế, lao động là nhân tố tạo nên tăng trƣởng kinh tế và thu nhập quốc dân5. Mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế góp phần bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo hƣớng bền vững. Nền kinh tế phát triển bền vững ngƣợc lại giúp duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của ngƣời lao động. Trái lại, khi nền kinh tế không đáp ứng về việc làm cho ngƣời lao động, đời sống xã hội xảy ra nhiều tiêu cực và ảnh hƣởng xấu đến sự phát triển nhân cách con ngƣời.
Điều 13 Bộ luật lao động nƣớc ta định nghĩa việc làm nhƣ sau: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”6. Vậy, một hoạt động đƣợc coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: 5 Xem mục 1 Phụ lục A về phân biệt của ILO giữa việc làm và lao động. 6 Xem mục 2 Phụ lục A về điểm hạn chế của Luật lao động Việt Nam. 8 - Là những công việc mà ngƣời lao động nhận đƣợc tiền công.
- Là những công việc mà lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình. - Hoạt động đó phải đƣợc pháp luật thừa nhận. Trong các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS), việc làm đƣợc chia thành 3 loại (xem mục 3 Phụ lục A) gồm: Loại 1: Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lƣơng bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật. Đây chính là công việc của nhóm lao động làm công ăn lƣơng.
Loại 2: Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân. Đây là công việc của lao động tự làm chủ, của doanh nhân, của chủ cơ sở, doanh nghiệp. Loại 3: Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao. Đây là công việc của lao động gia đình không hƣởng lƣơng.
Vị thế việc làm: Trong 3 loại việc làm7 nêu trong mục 2.1, loại 2 và loại 3 đƣợc xếp vào dạng ”công việc tự làm” của một thành viên trong hộ gia đình. Còn loại 1 tƣơng ứng với dạng ”công việc làm thuê, làm công”. Loại 1 là công việc mà ngƣời lao động là ngƣời đƣợc tổ chức/cá nhân khác thuê theo thỏa thuận (hợp đồng lao động, quyết định tuyển dụng,…) để thực hiện một hoặc một loạt các việc nhằm đạt đƣợc mục đích của tổ chức/cá nhân đó và đƣợc tổ chức/cá nhân này trả thù lao dƣới dạng tiền công, tiền lƣơng hoặc hiện vật. Loại 2 và loại 3 rất đa dạng và có thể dễ lẫn với việc đi làm nhận tiền lƣơng, tiền công.
Một bác sỹ ban ngày làm cho bệnh viện và nhận lƣơng thì đó là việc làm nhận tiền lƣơng, tiền công. Cũng ngƣời này, buổi tối có phòng khám tƣ và tự hành nghề y thì việc này là việc tự làm. Một thợ nề trong 12 tháng qua có 4 tháng đi làm cho một chủ thầu xây dựng và nhận lƣơng tháng thì việc này là việc làm nhận tiền lƣơng, tiền công. Cũng ngƣời này, trong 8 tháng còn lại nhận xây một nhà ở, tuyển thêm thợ và tổ chức, điều hành việc xây dựng ngôi nhà đó và nhận tiền của chủ nhà cho việc xây nhà đó.
Trƣờng hợp này việc xây ngôi nhà là 7 Xem mục 3 Phụ lục A để phân biệt việc làm và vị thế việc làm. 9 việc tự làm và là việc chiếm nhiều thời gian nhất trong 12 tháng qua, việc đi làm cho chủ thầu trong 4 tháng nêu trên là việc thứ hai trong 12 tháng qua.1 trong Phụ lục A trình bày rõ các căn cứ để xác định loại việc làm nêu trên theo định nghĩa của VHLSS. “Báo cáo điều tra về lao động và việc làm năm 2011” (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2012) cũng có cách định nghĩa tƣơng tự VHLSS về việc tự làm và việc làm thuê, làm công (Bảng 2.2 trong Phụ lục A). Hai cách định nghĩa và phân loại việc làm nêu trên của GSO trong VHLSS và trong Điều tra lao động và việc làm khá phù hợp và tƣơng thích với định nghĩa về ICSE 1993 của ILO về “vị thế việc làm” nêu ở bảng 2.
Theo ICSE 1993, vị thế việc làm (status in employment): là vị trí hay tình trạng của một ngƣời có việc làm trong mối quan hệ với những ngƣời khác trong đơn vị/tổ chức mà ngƣời đó làm việc. Từ các khái niệm và cách phân loại việc làm và vị thế việc làm đƣợc phân tích trên đây, vị thế việc làm có thể chia thành 5 nhóm. Tuy nhiên, nhóm lao động gia đình không hƣởng lƣơng sẽ đƣợc loại ra trong nghiên cứu này do thu nhập của nhóm bằng không. Trong 4 nhóm còn lại (chủ cơ sở, tự làm, làm công ăn lƣơng và lao động gia đình có trả công), Tổng cục thống kê Việt Nam khi điều tra lao động và việc làm cũng nhƣ điều tra mức sống dân cƣ đều tập hợp 4 nhóm này vào 2 nhóm chính: việc làm đƣợc trả công và việc tự làm.
Tóm lại, bài nghiên cứu này sẽ phân tích việc làm chính toàn thời gian của 2 nhóm đối tƣợng lao động theo cách phân loại của GSO. Thu nhập: Thu nhập là một phạm trù kinh tế, là một kết quả quan trọng của sự phân phối của cải xã hội. Kinh tế học vi mô coi sản xuất là sự kết hợp giữa hai yếu tố - lao động và vốn. Vốn thuộc quyền sở hữu của một bộ phân dân cƣ trong xã hội.
Còn một bộ phận dân cƣ khác không có vốn, chỉ có sức lao động phải đi làm thuê cho ngƣời có vốn. Và đổi lại, họ đƣợc nhận các khoản tiền gọi là thu nhập. Cách hiểu 10 thông thƣờng nhất khi nói đến “thu nhập” (earnings), đó là số tiền nhận đƣợc từ sức lao động sản xuất hay làm dịch vụ mang lại. Về mặt lý thuyết, các nhà kinh tế có các khái niệm khác nhau về thu nhập khi xem xét ở góc độ khác nhau.
Adam Smith8 cho rằng: “tiền lương, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập” (Nguyễn Hữu Thảo, 2001). Một khái niệm khác đƣợc gọi là “khái niệm HSH”9 (Zacharias, 2002) cho rằng: thu nhập là số tiền tối đa đƣợc một ngƣời chi tiêu trong khoảng thời gian mà khối tài sản thực sự của ngƣời đó không hề thay đổi. Còn theo SNA 199310, “về mặt lý thuyết, thu nhập được xác định khi số tiền tối đa mà một hộ gia đình có thể sử dụng chi tiêu mà không làm giảm đi giá trị tài sản của họ” (trang 233). Hai khái niệm này có vẻ tƣơng tự nhau.
Thế nhƣng, các nhà thống kê lại không đồng tình với cách định nghĩa này, vì nó khác xa với các phƣơng pháp tính thu nhập cá nhân, công ty và cả thu nhập của quốc gia (Eisner, 1989). Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thu nhập là sự trả công hoặc có thể biểu hiện bằng tiền, đƣợc ấn định bằng thỏa thuận giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. Số tiền đó hoặc còn có thể ấn định dựa trên pháp luật, pháp quy của quốc gia. Nó do ngƣời sử dụng lao động phải trả cho ngƣời lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã hoặc sẽ phải thực hiện, hay những dịch vụ đã hoặc sẽ phải làm.
Vì vậy, khái niệm và cơ cấu thu nhập đƣợc hiểu rất đa dạng ở các nƣớc khác nhau trên thế giới. Trên quan điểm của khoa học thống kê, Tổng cục thống kê nƣớc ta (GSO)11 đƣa ra hai khái niệm có liên quan với nhau về “lƣơng” (wage, salary) và “thu nhập từ việc làm” (earnings) (bảng 2. Theo đó, “thu nhập từ việc làm” do GSO định nghĩa chỉ nhắm đến đối tƣợng ngƣời lao động làm công ăn lƣơng để so sánh nó khác biệt nhƣ thế nào với “lƣơng”, 8 “Wealth of nations” (Sự giàu có của các quốc gia) 9 Haig 1921 – Simons 1938 - Hicks 1939 10 The 1993 System of National Accounts - United Nations 11 Trong phần chỉ tiêu “Thu nhập bình quân một lao động đang làm việc” thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh. 11 nhƣng lại không định nghĩa đƣợc thu nhập của ngƣời lao động tự làm.
Tiền lƣơng và thu nhập là 2 khái niệm khác nhau về nội dung và hình thức nhƣng lại bổ sung, gắn kết cho nhau. Trong thu nhập có một phần là tiền lƣơng, và tiền lƣơng là một phần của thu nhập. Thu nhập = Tiền lương + M, với M có thể hiểu là những loại hình thu nhập khác ngoài lƣơng (CIEM, 2012). Với cách định nghĩa này của GSO, tiền lƣơng nằm trong thu nhập của đối tƣợng làm công ăn lƣơng.