Khác biệt thu nhập theo vị thế việc làm trong khu vực phi nông nghiệp ở việt nam giai đoạn 2008 2014

Khác biệt thu nhập theo vị trí việc làm trong khu vực phi nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2008-2014, phân tích và so sánh chi tiết.

Chuyên ngành

Kinh Tế Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2017

144
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chênh Lệch Thu Nhập Phi Nông Nghiệp Ở VN

Nghiên cứu về chênh lệch thu nhập trong khu vực phi nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2008-2014 là vô cùng quan trọng. Lao động, nghề nghiệpviệc làm là yếu tố then chốt cho hội nhập và tăng trưởng. Mặc dù Việt Nam có HDI (chỉ số phát triển con người) khá cao, nhưng chỉ số thu nhập bình quân đầu người vẫn còn thấp và có xu hướng bất bình đẳng thu nhập ngày càng tăng. Nghiên cứu này tập trung vào vị thế việc làm, so sánh công việc làm công ăn lươngtự làm chủ. Dữ liệu thu thập từ Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS), nguồn chính thống về thu nhập của cả hai nhóm. Mục tiêu là đánh giá, phân tích, định lượng và so sánh thu nhập của người lao động trong khu vực phi nông nghiệp giữa năm 2008 và 2014. Trích dẫn từ tài liệu gốc cho thấy, “Bất bình đẳng thu nhập là đề tài đã được nghiên cứu rất nhiều. Thế nhưng có rất ít nghiên cứu về “vị thế việc làm”, nhất là ở Việt Nam”.

1.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu Bất Bình Đẳng Thu Nhập

Nghiên cứu bất bình đẳng thu nhập là cần thiết để hiểu rõ hơn về phân hóa giàu nghèo. Các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm làm việc, và giới tính có thể ảnh hưởng đến thu nhập. Việc xác định các yếu tố này giúp đề xuất chính sách nhằm giảm chênh lệch thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Phân tích thống kê là công cụ quan trọng để định lượng mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố.

1.2. Giới thiệu Dữ Liệu Khảo Sát Mức Sống Dân Cư Việt Nam VHLSS

VHLSS là nguồn dữ liệu quan trọng để phân tích thu nhậpmức sống của người dân. Dữ liệu này cung cấp thông tin chi tiết về cơ cấu việc làm, thu nhập bình quân đầu người, và các yếu tố khác liên quan đến đời sống. Việc sử dụng VHLSS giúp nghiên cứu có cơ sở thực tiễn vững chắc và đáng tin cậy. Dữ liệu này đặc biệt quan trọng cho việc phân tích lao động phi nông nghiệp.

1.3. Phạm vi nghiên cứu về khu vực phi nông nghiệp

Nghiên cứu tập trung vào khu vực phi nông nghiệp, loại trừ khu vực nông thôn. Điều này giúp tập trung vào các ngành nghề có giá trị gia tăng cao hơn và sự thay đổi của thị trường lao động. Việc so sánh thu nhập trong khu vực này giúp hiểu rõ hơn về tác động của phát triển kinh tế đối với người lao động. Khu vực thành thị sẽ là một yếu tố được xem xét, bên cạnh các vùng miền khác.

II. Vấn Đề Chênh Lệch Thu Nhập Giữa Các Vị Thế Việc Làm

Sau khủng hoảng kinh tế 2008, thị trường lao động Việt Nam chịu nhiều tác động. Nhiều hộ kinh doanh phi chính thức (lao động tự làm) giảm thu nhập. Nghiên cứu đặt câu hỏi: Thu nhập của công việc làm công ăn lương giảm nhiều hơn hay ít hơn so với tự làm chủ? So sánh năm 2008 và 2014, khác biệt thu nhập giữa hai nhóm có thay đổi đáng kể không? Các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm, giới tính, dân tộcđịa lý có tác động như thế nào đến chênh lệch thu nhập? Các yếu tố này được nghiên cứu thông qua mô hình hồi quy Oaxaca – Blinder. Trích dẫn từ tài liệu gốc, “ Từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đến nay, nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường lao động nói riêng đã chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực”.

2.1. Tác động của khủng hoảng kinh tế đến thu nhập

Khủng hoảng kinh tế năm 2008 gây ảnh hưởng lớn đến thu nhập của người lao động, đặc biệt là trong khu vực kinh tế phi chính thức. Việc phân tích tác động của khủng hoảng giúp hiểu rõ hơn về khả năng phục hồi của các nhóm lao động khác nhau. Chính phủ cần có chính sách việc làm phù hợp để hỗ trợ người lao động vượt qua khó khăn.

2.2. So sánh thu nhập giữa năm 2008 và 2014

Việc so sánh thu nhập giữa năm 2008 và 2014 cho thấy sự thay đổi trong chênh lệch thu nhập theo thời gian. Phân tích xu hướng thu nhập giúp xác định liệu khoảng cách giàu nghèo có tăng lên hay giảm đi. Các yếu tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tếlạm phát cũng cần được xem xét.

2.3. Vai trò của yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến thu nhập

Các yếu tố cá nhân như trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, giới tính, dân tộcđịa lý đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định thu nhập. Việc phân tích yếu tố ảnh hưởng thu nhập giúp xác định các nhóm người lao động dễ bị tổn thương và cần được hỗ trợ đặc biệt. Yếu tố vùng miền cũng rất quan trọng.

III. Phương Pháp Phân Tích Chênh Lệch Thu Nhập với Mincer OB

Nghiên cứu sử dụng hàm thu nhập Mincer để xây dựng mô hình ước lượng. Kết hợp phương pháp Oaxaca – Blinder (1973) để phân rã các biến thành nguyên nhân giải thích được và không giải thích được. Hồi quy bình phương tối thiểu (OLS) với biến phụ thuộc là log của thu nhập bình quân theo giờ và biến độc lập gồm các biến về vốn con người, điều kiện kinh tếvùng địa lý. Phân tích thống kê giúp xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố. Trích dẫn từ tài liệu gốc, “Nghiên cứu dùng hồi quy bình phương tối thiểu (OLS) với biến phụ thuộc là log a nepe của thu nhập bình quân theo giờ và biến độc lập gồm các biến về vốn con người, điều kiện kinh tế và vùng địa lý.”

3.1. Ứng dụng Hàm Thu Nhập Mincer để Ước Lượng

Hàm thu nhập Mincer là công cụ phổ biến để phân tích thu nhập. Mô hình này cho phép ước lượng ảnh hưởng của giáo dục, kinh nghiệm làm việc và các yếu tố khác đến thu nhập. Việc sử dụng hàm Mincer giúp nghiên cứu có cơ sở lý thuyết vững chắc. Các biến độc lập sẽ được xem xét kỹ lưỡng.

3.2. Phương pháp Oaxaca Blinder Phân Rã Chênh Lệch

Phương pháp Oaxaca – Blinder giúp phân rã chênh lệch thu nhập thành các thành phần giải thích được và không giải thích được. Thành phần giải thích được phản ánh sự khác biệt về đặc điểm của người lao động, trong khi thành phần không giải thích được có thể do phân biệt đối xử hoặc các yếu tố khác. Phương pháp này giúp làm rõ nguyên nhân sâu xa của bất bình đẳng thu nhập. Mô hình hồi quy sẽ được triển khai.

3.3. Ước Lượng Bằng Hồi Quy Bình Phương Tối Thiểu OLS

Hồi quy bình phương tối thiểu (OLS) là phương pháp thống kê được sử dụng để ước lượng mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập. Việc sử dụng OLS giúp xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến thu nhập bình quân theo giờ. Các giả định của OLS cần được kiểm tra để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

IV. Kết Quả Phân Tích và So Sánh Thu Nhập Theo Vị Thế

Kết quả cho thấy sự thay đổi phần trăm tương đối của thu nhập bình quân theo giờ của người làm công ăn lương cao hơn người tự làm chủ. Chênh lệch năm 2008 là 0.2157, năm 2014 là 0.2521, tăng gần 20% sau 6 năm. Nguyên nhân chủ yếu do khác biệt trong đặc điểm của người lao động (năm 2008 chiếm 69.75%). Năm 2014, khác biệt đặc điểm ảnh hưởng ít hơn (36.27%), nguyên nhân không giải thích được chiếm 63.71%. Người làm công ăn lương có ưu thế về trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật. Trích dẫn từ tài liệu gốc, “ Sự khác biệt thu nhập giữa người làm thuê và người làm chủ đến từ nhiều nguyên nhân. Trước tiên là do người làm công ăn lương có ưu thế về trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, sau là do các thành phần không giải thích được (sự phân biệt đối xử trong chính sách giữa người làm công ăn lương với người tự làm”.

4.1. Thay Đổi Tương Đối Trong Thu Nhập Bình Quân Theo Giờ

Phân tích sự thay đổi tương đối trong thu nhập bình quân theo giờ giúp so sánh hiệu quả kinh tế giữa các nhóm lao động. Việc xác định nhóm nào có tốc độ tăng trưởng thu nhập cao hơn cho phép đề xuất chính sách hỗ trợ phù hợp. Các yếu tố như cơ cấu việc làmphát triển kinh tế có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi này.

4.2. Ảnh Hưởng của Đặc Điểm Cá Nhân Đến Chênh Lệch Thu Nhập

Đặc điểm cá nhân như trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, giới tínhdân tộc có ảnh hưởng lớn đến chênh lệch thu nhập. Việc phân tích mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố giúp xác định các nhóm người lao động dễ bị thiệt thòi và cần được bảo vệ. Bất bình đẳng thu nhập có thể do phân biệt đối xử.

4.3. Ưu Thế của Người Làm Công Ăn Lương Về Giáo Dục

Người làm công ăn lương thường có trình độ học vấnchuyên môn kỹ thuật cao hơn so với người tự làm chủ. Điều này giúp họ có lợi thế trong việc tìm kiếm việc làm và có mức lương cao hơn. Việc đầu tư vào giáo dụcđào tạo nghề là yếu tố quan trọng để nâng cao thu nhập của người lao động.

V. Kết Luận Giải Pháp Giảm Khác Biệt Thu Nhập Hiện Nay

Nghiên cứu cho thấy khác biệt thu nhập giữa người làm công và tự làm chủ tồn tại và có xu hướng tăng. Nguyên nhân do khác biệt về đặc điểm (giáo dục, kinh nghiệm) và yếu tố không giải thích được (phân biệt đối xử). Cần có chính sách hỗ trợ giáo dục, đào tạo nghề cho lao động tự do. Cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho phát triển kinh tếtăng trưởng kinh tế bền vững. Chính sách việc làm cần chú trọng đến nhóm lao động yếu thế. Trích dẫn từ tài liệu gốc, “Đề xuất một số gợi ý nhằm giảm khoảng cách đó”.

5.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu về Chênh Lệch Thu Nhập

Nghiên cứu đã chỉ ra sự tồn tại và gia tăng của chênh lệch thu nhập giữa người làm công và tự làm chủ. Các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm làm việcphân biệt đối xử đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự khác biệt này. Việc giải quyết bất bình đẳng thu nhập là cần thiết để đảm bảo công bằng xã hội.

5.2. Giải pháp chính sách cho thị trường lao động

Chính phủ cần có chính sách việc làm phù hợp để hỗ trợ người lao động yếu thế và giảm chênh lệch thu nhập. Các giải pháp có thể bao gồm đầu tư vào giáo dục, đào tạo nghề, cải thiện môi trường kinh doanh và tạo điều kiện cho phát triển kinh tế bền vững. Chính sách cần hướng đến sự công bằng và bình đẳng.

5.3. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo về Thu Nhập

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào phân tích sâu hơn về các yếu tố không giải thích được trong chênh lệch thu nhập. Việc tìm hiểu về các yếu tố như mạng lưới xã hội, khả năng sáng tạotinh thần khởi nghiệp có thể giúp hiểu rõ hơn về thành công của người tự làm chủ. Nghiên cứu cũng có thể mở rộng phạm vi sang các khu vực khác và giai đoạn khác.

VI. Hướng Dẫn Cách Giảm Chênh Lệch Thu Nhập Tăng Trưởng

Giảm chênh lệch thu nhập cần kết hợp nhiều giải pháp. Tăng cường giáo dục, đào tạo nghề để nâng cao kỹ năng cho lao động tự do. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ vốn, kỹ thuật cho chủ hộ kinh doanh. Xóa bỏ phân biệt đối xử trong chính sách việc làm. Khuyến khích tăng trưởng kinh tế toàn diện, tạo nhiều cơ cấu việc làm chất lượng cao. Trích dẫn từ tài liệu gốc, “Từ đó, nghiên cứu cung cấp thông tin và đề xuất những gợi ý nhằm giảm thiểu mức độ chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm lao động trong khu vực này”.

6.1. Đầu Tư vào Giáo Dục và Đào Tạo Kỹ Năng

Đầu tư vào giáo dụcđào tạo kỹ năng là yếu tố then chốt để nâng cao thu nhập của người lao động. Các chương trình đào tạo cần tập trung vào các kỹ năng mềm và kỹ năng chuyên môn đáp ứng nhu cầu của thị trường. Việc tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận giáo dục chất lượng cao là ưu tiên hàng đầu.

6.2. Hỗ Trợ Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ và Vừa

Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một giải pháp quan trọng để tạo ra nhiều cơ cấu việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Các chính sách hỗ trợ có thể bao gồm giảm thuế, cung cấp vốn vay ưu đãi và đào tạo kỹ năng quản lý. DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

6.3. Xây Dựng Môi Trường Kinh Doanh Công Bằng Minh Bạch

Xây dựng môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch là yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế. Các chính sách cần hướng đến việc giảm thiểu thủ tục hành chính, đảm bảo quyền sở hữu và bảo vệ cạnh tranh. Môi trường kinh doanh ổn định và dự đoán được sẽ tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp.

24/05/2025
Khác biệt thu nhập theo vị thế việc làm trong khu vực phi nông nghiệp ở việt nam giai đoạn 2008 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu đề tài Chƣơng 1 cung cấp lý do nghiên cứu, đề cập đến mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và mô tả ngắn gọn phƣơng pháp luận, dữ liệu nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết Các lý thuyết và phân tích thực nghiệm của các nghiên cứu trƣớc có liên quan đƣợc đề cập đến trong chƣơng này. Chương 3: Khung phân tích, phương pháp và giả thuyết nghiên cứu. Kỹ thuật, phƣơng pháp luận đƣợc mô tả cẩn thận.

Mô hình ứng dụng cùng với dữ liệu đƣợc phân tích chi tiết trong chƣơng này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu 6 Chƣơng này đúc kết các đặc điểm, phân tích dữ liệu và đánh giá kết quả các ƣớc lƣợng và kiểm định liên quan. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chƣơng này nêu tóm tắt các kết quả ƣớc lƣợng và khuyến nghị chính sách. Cuối cùng, các hạn chế của đề tài cũng đƣợc nêu ra và phân tích.

7 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chƣơng này trình bày các khái niệm, bản chất của thu nhập và vị thế việc làm, những nhân tố ảnh hƣởng đến thu nhập của ngƣời lao động có vị thế việc làm khác nhau. Chƣơng cũng trình bày những nguyên nhân tạo nên khác biệt thu nhập giữa ngƣời làm công ăn lƣơng và ngƣời tự làm. Đồng thời, nhắc lại kết quả của các nghiên cứu trƣớc có liên quan đến vị thế việc làm, khác biệt thu nhập và có dùng phƣơng pháp phân rã Oaxaca – Blinder. Một số khái niệm cơ bản: 2.

Việc làm: Ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát về việc làm. Đối với từng cá nhân, có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình. Việc không có việc làm trong dài hạn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp, làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có.

Đối với nền kinh tế, lao động là nhân tố tạo nên tăng trƣởng kinh tế và thu nhập quốc dân5. Mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế góp phần bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo hƣớng bền vững. Nền kinh tế phát triển bền vững ngƣợc lại giúp duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của ngƣời lao động. Trái lại, khi nền kinh tế không đáp ứng về việc làm cho ngƣời lao động, đời sống xã hội xảy ra nhiều tiêu cực và ảnh hƣởng xấu đến sự phát triển nhân cách con ngƣời.

Điều 13 Bộ luật lao động nƣớc ta định nghĩa việc làm nhƣ sau: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”6. Vậy, một hoạt động đƣợc coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: 5 Xem mục 1 Phụ lục A về phân biệt của ILO giữa việc làm và lao động. 6 Xem mục 2 Phụ lục A về điểm hạn chế của Luật lao động Việt Nam. 8 - Là những công việc mà ngƣời lao động nhận đƣợc tiền công.

- Là những công việc mà lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình. - Hoạt động đó phải đƣợc pháp luật thừa nhận. Trong các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS), việc làm đƣợc chia thành 3 loại (xem mục 3 Phụ lục A) gồm: Loại 1: Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lƣơng bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật. Đây chính là công việc của nhóm lao động làm công ăn lƣơng.

Loại 2: Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân. Đây là công việc của lao động tự làm chủ, của doanh nhân, của chủ cơ sở, doanh nghiệp. Loại 3: Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao. Đây là công việc của lao động gia đình không hƣởng lƣơng.

Vị thế việc làm: Trong 3 loại việc làm7 nêu trong mục 2.1, loại 2 và loại 3 đƣợc xếp vào dạng ”công việc tự làm” của một thành viên trong hộ gia đình. Còn loại 1 tƣơng ứng với dạng ”công việc làm thuê, làm công”. Loại 1 là công việc mà ngƣời lao động là ngƣời đƣợc tổ chức/cá nhân khác thuê theo thỏa thuận (hợp đồng lao động, quyết định tuyển dụng,…) để thực hiện một hoặc một loạt các việc nhằm đạt đƣợc mục đích của tổ chức/cá nhân đó và đƣợc tổ chức/cá nhân này trả thù lao dƣới dạng tiền công, tiền lƣơng hoặc hiện vật. Loại 2 và loại 3 rất đa dạng và có thể dễ lẫn với việc đi làm nhận tiền lƣơng, tiền công.

Một bác sỹ ban ngày làm cho bệnh viện và nhận lƣơng thì đó là việc làm nhận tiền lƣơng, tiền công. Cũng ngƣời này, buổi tối có phòng khám tƣ và tự hành nghề y thì việc này là việc tự làm. Một thợ nề trong 12 tháng qua có 4 tháng đi làm cho một chủ thầu xây dựng và nhận lƣơng tháng thì việc này là việc làm nhận tiền lƣơng, tiền công. Cũng ngƣời này, trong 8 tháng còn lại nhận xây một nhà ở, tuyển thêm thợ và tổ chức, điều hành việc xây dựng ngôi nhà đó và nhận tiền của chủ nhà cho việc xây nhà đó.

Trƣờng hợp này việc xây ngôi nhà là 7 Xem mục 3 Phụ lục A để phân biệt việc làm và vị thế việc làm. 9 việc tự làm và là việc chiếm nhiều thời gian nhất trong 12 tháng qua, việc đi làm cho chủ thầu trong 4 tháng nêu trên là việc thứ hai trong 12 tháng qua.1 trong Phụ lục A trình bày rõ các căn cứ để xác định loại việc làm nêu trên theo định nghĩa của VHLSS. “Báo cáo điều tra về lao động và việc làm năm 2011” (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2012) cũng có cách định nghĩa tƣơng tự VHLSS về việc tự làm và việc làm thuê, làm công (Bảng 2.2 trong Phụ lục A). Hai cách định nghĩa và phân loại việc làm nêu trên của GSO trong VHLSS và trong Điều tra lao động và việc làm khá phù hợp và tƣơng thích với định nghĩa về ICSE 1993 của ILO về “vị thế việc làm” nêu ở bảng 2.

Theo ICSE 1993, vị thế việc làm (status in employment): là vị trí hay tình trạng của một ngƣời có việc làm trong mối quan hệ với những ngƣời khác trong đơn vị/tổ chức mà ngƣời đó làm việc. Từ các khái niệm và cách phân loại việc làm và vị thế việc làm đƣợc phân tích trên đây, vị thế việc làm có thể chia thành 5 nhóm. Tuy nhiên, nhóm lao động gia đình không hƣởng lƣơng sẽ đƣợc loại ra trong nghiên cứu này do thu nhập của nhóm bằng không. Trong 4 nhóm còn lại (chủ cơ sở, tự làm, làm công ăn lƣơng và lao động gia đình có trả công), Tổng cục thống kê Việt Nam khi điều tra lao động và việc làm cũng nhƣ điều tra mức sống dân cƣ đều tập hợp 4 nhóm này vào 2 nhóm chính: việc làm đƣợc trả công và việc tự làm.

Tóm lại, bài nghiên cứu này sẽ phân tích việc làm chính toàn thời gian của 2 nhóm đối tƣợng lao động theo cách phân loại của GSO. Thu nhập: Thu nhập là một phạm trù kinh tế, là một kết quả quan trọng của sự phân phối của cải xã hội. Kinh tế học vi mô coi sản xuất là sự kết hợp giữa hai yếu tố - lao động và vốn. Vốn thuộc quyền sở hữu của một bộ phân dân cƣ trong xã hội.

Còn một bộ phận dân cƣ khác không có vốn, chỉ có sức lao động phải đi làm thuê cho ngƣời có vốn. Và đổi lại, họ đƣợc nhận các khoản tiền gọi là thu nhập. Cách hiểu 10 thông thƣờng nhất khi nói đến “thu nhập” (earnings), đó là số tiền nhận đƣợc từ sức lao động sản xuất hay làm dịch vụ mang lại. Về mặt lý thuyết, các nhà kinh tế có các khái niệm khác nhau về thu nhập khi xem xét ở góc độ khác nhau.

Adam Smith8 cho rằng: “tiền lương, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập” (Nguyễn Hữu Thảo, 2001). Một khái niệm khác đƣợc gọi là “khái niệm HSH”9 (Zacharias, 2002) cho rằng: thu nhập là số tiền tối đa đƣợc một ngƣời chi tiêu trong khoảng thời gian mà khối tài sản thực sự của ngƣời đó không hề thay đổi. Còn theo SNA 199310, “về mặt lý thuyết, thu nhập được xác định khi số tiền tối đa mà một hộ gia đình có thể sử dụng chi tiêu mà không làm giảm đi giá trị tài sản của họ” (trang 233). Hai khái niệm này có vẻ tƣơng tự nhau.

Thế nhƣng, các nhà thống kê lại không đồng tình với cách định nghĩa này, vì nó khác xa với các phƣơng pháp tính thu nhập cá nhân, công ty và cả thu nhập của quốc gia (Eisner, 1989). Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thu nhập là sự trả công hoặc có thể biểu hiện bằng tiền, đƣợc ấn định bằng thỏa thuận giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. Số tiền đó hoặc còn có thể ấn định dựa trên pháp luật, pháp quy của quốc gia. Nó do ngƣời sử dụng lao động phải trả cho ngƣời lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã hoặc sẽ phải thực hiện, hay những dịch vụ đã hoặc sẽ phải làm.

Vì vậy, khái niệm và cơ cấu thu nhập đƣợc hiểu rất đa dạng ở các nƣớc khác nhau trên thế giới. Trên quan điểm của khoa học thống kê, Tổng cục thống kê nƣớc ta (GSO)11 đƣa ra hai khái niệm có liên quan với nhau về “lƣơng” (wage, salary) và “thu nhập từ việc làm” (earnings) (bảng 2. Theo đó, “thu nhập từ việc làm” do GSO định nghĩa chỉ nhắm đến đối tƣợng ngƣời lao động làm công ăn lƣơng để so sánh nó khác biệt nhƣ thế nào với “lƣơng”, 8 “Wealth of nations” (Sự giàu có của các quốc gia) 9 Haig 1921 – Simons 1938 - Hicks 1939 10 The 1993 System of National Accounts - United Nations 11 Trong phần chỉ tiêu “Thu nhập bình quân một lao động đang làm việc” thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh. 11 nhƣng lại không định nghĩa đƣợc thu nhập của ngƣời lao động tự làm.

Tiền lƣơng và thu nhập là 2 khái niệm khác nhau về nội dung và hình thức nhƣng lại bổ sung, gắn kết cho nhau. Trong thu nhập có một phần là tiền lƣơng, và tiền lƣơng là một phần của thu nhập. Thu nhập = Tiền lương + M, với M có thể hiểu là những loại hình thu nhập khác ngoài lƣơng (CIEM, 2012). Với cách định nghĩa này của GSO, tiền lƣơng nằm trong thu nhập của đối tƣợng làm công ăn lƣơng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ