Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở giải phẫu và sinh lý 1. Giải phẫu vùng ngực 1. Cấu tạo của lồng ngực Hình 1.
Lồng ngực nhìn từ trước17 - Ngực được tạo lên bởi một khung xương gồm 12 đốt sống ngực, các xương sườn và xương ức, khung này quây lấy một khoang gọi là lồng ngực để chứa các tạng quan trọng như tim và phổi18–20 (Hình 1. - Lồng ngực giống như một thùng rỗng, phình ở giữa có đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau. - Lỗ trên lồng ngực được giới hạn bởi đốt sống ngực thứ nhất, xương sườn thứ nhất và bờ trên cán ức. Lỗ dưới lồng ngực lớn hơn được giới hạn bởi đốt sống ngực thứ mười hai và xương sườn thứ mười hai ở phía sau, sụn sườn thứ bảy nối với xương ức ở phía trước.
Ở đây sụn sườn thứ bảy tạo thành góc dưới ức, hai bên lồng ngực là cung sườn, giữa hai xương sườn là khoang gian sườn. - Giới hạn của trung thất: Phía trước là mảng ức - sụn sườn, phía sau là cột sống, ở dưới là cơ hoành, phía trên là khe cổ - trung thất và ở ngoài 4 hai bên là hai lá màng phổi trung thất tiếp giáp hai mặt trung thất của hai phổi18,19,21. - Về mặt hình thể trung thất được chia làm 4 khu: Trung thất trên, trung thất trước, trung thất giữa và trung thất sau. + Trung thất trên chứa: Tuyến ức, khí quản, các động mạch lớn và các nhánh của nó, dây thần kinh X và dây thần kinh hoành.
+ Trung thất trước chỉ chứa một ít tổ chức liên kết và một số hạch bạch huyết. + Trung thất giữa chứa: Tim và màng ngoài tim. + Trung thất sau chứa: Thực quản, động mạch chủ ngực, hệ tĩnh mạch đơn, ống ngực, các dây và chuỗi hạch giao cảm ngực. Các cơ thành ngực Các cơ thành ngực được phân thành 3 lớp (Hình 1.2): - Lớp cơ nông - Lớp cơ sâu - Lớp cơ gian sườn Do cấu tạo giải phẫu của thành ngực có các lớp cơ trên, nên khi mổ mở ngực để đốt hạch giao cảm ngực rất khó tiếp cận hạch giao cảm vì thành ngực dày.
Chính vì thế phẫu thuật nội soi sẽ khắc phục được nhược điểm này22. Hình ảnh cắt ngang lồng ngực17 5 1. Thần kinh của lồng ngực Có 12 đôi dây thần kinh sống trong lồng ngực mỗi một dây thần kinh sống được thoát ra ngay tại lỗ giữa của xương sống và được phân chia thành nhánh lưng và nhánh bụng18,20,22. Động mạch ngực trong Động mạch ngực trong là một nhánh đầu tiên của động mạch dưới đòn tách ra ở nền cổ, động mạch này chạy xuống dọc bờ bên xương ức.
Nó tách ra sáu động mạch gian sườn trước vào sáu khoang gian sườn trên rồi tận cùng bằng động mạch thượng vị trên và động mạch cơ hoành. Động mạch thượng vị trên chui vào bao cơ thẳng bụng và tiếp nối với động mạch thượng vị dưới nhánh của động mạch chậu ngoài; động mạch cơ hoành chia thành ba động mạch gian sườn trước cho ba khoang gian sườn tiếp theo. Các nhánh gian sườn trước của động mạch ngực trong tiếp nối với động mạch ngực ngoài và động mạch ngực - cùng vai (nhánh ngực) của động mạch nách; chúng tiếp nối với các nhánh gian sườn sau của động mạch chủ ngực. Ngoài ra động mạch gian sườn trên (nhánh của động mạch sườn - cổ) tách ra hai động mạch gian sườn sau cho hai khoang gian sườn trên.
Do đó khi các phẫu thuật mở ngực cần phải thận trọng nếu không sẽ làm tổn thương động mạch gian sườn. Phẫu thuật nội soi ngực là một lợi thế để hạn chế biến chứng này. Tuy nhiên trong phẫu thuật nội soi ngực quá trình chọc trocar nên chọc ở vị trí bờ trên xương sườn dưới của khoang gian sườn để tránh làm tổn thương động mạch gian sườn19,20,22. Tĩnh mạch Tất cả các động mạch đều có các tĩnh mạch đi kèm.
Các tĩnh mạch này hợp lại thành tĩnh mạch ngực trước sau đó đổ vào tĩnh mạch cánh tay đầu tại nền cổ. Các tĩnh mạch ở phía sau thì được đổ vào hệ thống tĩnh mạch đơn. Giải phẫu tuyến mồ hôi và cơ chế bệnh sinh20,23,24 Hình 1. Cấu trúc của da và mô dưới da25 Tuyến mồ hôi có ở khắp nơi trên da, là tuyến ngoại tiết, ống dẫn tiết kiểu cong queo, nằm trong lớp chân bì mỗi tuyến gồm có phần chế tiết và phần ống bài xuất (Hình 1.
Theo John Hornberger thì ở vùng lưng có khoảng 64 tuyến trên 1cm2, vùng trán là 181 tuyến trên 1cm2, lòng bàn tay là 700 tuyến trên 1cm2. Phần chế tiết, nằm ở chân bì, đôi khi ở hạ bì là đoạn đầu của tuyến mồ hôi, cong queo thành một khối gọi là tiểu cầu mồ hôi. Phần lớn nhất của đoạn chế tiết nằm ở chân bì, có đường kính khoảng 0,3 - 0,4mm. Tuyến mồ hôi ở nách, vùng quanh hậu môn, phần chế tiết có đường kính có thể đạt từ 3 - 5mm và được mô tả như tuyến mồ hôi bán hủy, bởi vì người ta cho rằng cực ngọn của tế bào chế tiết rời khỏi tế bào và bị tống ra ngoài trong giai đoạn bài xuất.
Những tuyến này liên hệ chặt chẽ với nang lông và nằm sâu trong lớp dưới da. 7 Thành của đoạn chế tiết nằm trên một màng đáy dày. Mặt trong màng đáy có: Tế bào cơ - biểu mô, xếp thành một hàng, đó là những tế bào hình thoi có nhánh dài 3 – 40 micromet. Trục dài của tế bào tiếp tuyến với thành tuyến.
Những tế bào này có nhân dài. Trong bào tương có những sợi bào tương giống như những sợi bào tương cơ trơn. Người ta cho rằng tế bào cơ - biểu mô co rút làm cho chất chế tiết của tuyến được bài tiết ra ngoài. Những tế bào chế tiết, có hình tháp tạo thành một lớp nằm trên mặt những tế bào cơ - biểu mô.
Phía cực đáy của những tế bào chế tiết có một nhân lớn, hình cầu. Trong bào tương có những ty thể và phía cực ngọn của tế bào giáp với lòng tuyến có một số không bào, đôi khi có những giọt lipid, những hạt glycogen, hạt sắc tố. Hạt glycogen giảm ở những tế bào đang hoạt động mạnh, sắc tố có trong chất tiết của một số tuyến mồ hôi, như tuyến ở nách. Hình dáng và đường kính của lòng đoạn chế tiết của tuyến mồ hôi thay đổi tùy giai đoạn hoạt động của tuyến.
Tế bào ở đoạn chế tiết có hai loại: Những tế bào sẫm màu có nhiều ribosom, nhiều không bào trên cực ngọn, nhiều lưới nội bào có hạt và những hạt chế tiết chứa glycoprotein, những tế bào sáng màu, trong bào tương có ít ribosom, lưới nội bào có hạt kém phát triển, nhiều hạt glycogen. Màng bào tương ở phía đáy có nhiều nếp gấp. Đó là đặc điểm của tế bào có vận chuyển ion và nước mạnh. Phần bài xuất tiếp với phần chế tiết, hơi cong queo, đi lên phía biểu bì, lòng của ống bài xuất nhỏ hơn phần chế tiết.
Phần bài xuất được chia làm hai đoạn. Đoạn ở chân bì lòng hẹp, thành là một lớp tế bào sẫm màu. Đoạn biểu bì là một khe soắn ốc và không có thành riêng. Thành phần của mồ hôi chủ yếu là nước, các chất bài tiết gồm: Amoniac, ure, acid uric, một số muối vô cơ như NaCl, KCl.
Bình thường ở người trưởng thành mồ hôi được bài tiết liên tục nhưng rất ít, ở nhiệt độ bình thường 8 lượng mồ hôi bài tiết một ngày vào khoảng 500ml. Khi trời nóng lượng mồ hôi bài tiết tăng lên có thể đến 5-6 lít/ngày, ngược lại khi trời rét mồ hôi bài tiết giảm đi, có thể không đáng kể. Lưu lượng bài tiết mồ hôi được điều hòa bởi hệ thần kinh thực vật, hệ giao cảm làm tăng bài tiết mồ hôi. Vì vậy khi giao cảm bị kính thích làm tăng tiết mồ hôi, hormon aldosterol tham gia điều hòa bài tiết natri/kali trong mồ hôi, làm giảm bài tiết natri và tăng tiết kali.
Để bài tiết các chất qua mồ hôi tay là nhờ hệ mạch dưới da, ngoài chức năng nuôi dưỡng da, mao mạch dưới da có cấu tạo giống mao mạch khác, nhưng tùy vùng da khác nhau mà số lượng mao mạch cấp máu khác nhau, mao mạch da có nhiều mao mạch nối thông với mao động mạch và mao tĩnh mạch (kênh ưu tiên). Các búi tĩnh mạch khá dày đặc ngay dưới da và nhận máu từ các mao mạch đi thẳng qua các mạch nối thông động tĩnh mạch mà vào búi tĩnh mạch. Các cấu trúc này có thể thay đổi lưu lượng máu chảy rất nhiều, từ chỗ không để máu chảy qua đến mức cho lọt qua đến 30% lưu lượng tim. Ngoài ra các cấu trúc này rất phát triển ở phần cơ thể phơi ra ngoài trời như bàn tay, bàn chân.
Khi máu đến da nhiều các kênh này mở ra làm có lượng máu đến da tăng lên gấp nhiều lần, làm cho da đỏ và nóng lên, trao đổi chất giữa da và dịch kẽ của da cũng tăng theo để thải các chất qua da. Lưu lượng của dòng chịu sự điều khiển của hệ thần kinh giao cảm. Điều hòa bài tiết mồ hôi 1. Vai trò của hệ thần kinh tự chủ Đối với tuyến mồ hôi, khi kích thích giao cảm làm tăng tiết mồ hôi, nhưng kích thích phó giao cảm lại không có tác dụng này.
Tuy vậy các sợi giao cảm đến tuyến mồ hôi của lòng bàn tay, bàn chân là các sợi adrenergic; còn các sợi giao cảm đến tuyến mồ hôi khác là các sợi cholinergic20,23,24. 9 Các tuyến mồ hôi ở hố nách cũng chịu tác dụng kích thích của hệ giao cảm qua các sợi adrenergic và chịu sự điều hòa của các trung tâm giao cảm của hệ thần kinh tự chủ. Các hạch giao cảm ngực tham gia vào sự điều tiết mồ hôi như sau: - Hạch ngực 1 (T1) tham gia vào sự điều tiết mồ hôi đầu, mặt và hiện tượng đỏ mặt, kiểm soát sự phản hồi của mắt và mí mắt nên khi T1 bị tổn thương gây nên hội chứng Horner (mi mắt bị sụp). T1 cũng tham gia vào sự ra mồ hôi của tay, nách nhưng ít hơn.
- Hạch ngực 2 (T2) tham gia vào sự điều tiết mồ hôi tay là chính nhưng cùng tham gia cả vào sự điều tiết mồ hôi mặt, nách và hiện tượng đỏ mặt.