Luận văn thạc sĩ kết quả điều trị bệnh nhân lao phổi mới afb bằng phác đồ 6 tháng 2rhze 4rhe tại bệnh viện lao và bệnh phổi thái nguyên

Luận văn thạc sĩ y tế phân tích kết quả điều trị bệnh nhân lao phổi mới afb bằng phác đồ 6 tháng 2rhze 4rhe tại bệnh viện lao và, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ y học

2016

101
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tình hình bệnh lao

1.1.1. Bệnh lao trên Thế giới

1.1.2. Bệnh lao ở Việt Nam

1.2. Lao phổi mới AFB (+) và bệnh lao phổi

1.2.1. Định nghĩa

1.2.2. Nguyên nhân

1.2.3. Sinh bệnh học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Điều Trị Lao Phổi AFB 6 Tháng Hiệu Quả

Bệnh lao vẫn là một thách thức lớn toàn cầu. Mỗi năm, có hàng triệu ca mắc mới và tử vong do lao. Việc rút ngắn thời gian điều trị lao phổi là mục tiêu quan trọng. Trước đây, thời gian điều trị kéo dài đến 24 tháng, sau đó giảm xuống còn 8 tháng. Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) khuyến cáo phác đồ 6 tháng (2RHZE/4RHE) chứa rifampicin. Phác đồ này đã được nhiều quốc gia áp dụng để điều trị lao phổi AFB dương tính. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ lao cao. Việc áp dụng phác đồ 6 tháng giúp điều trị nhanh chóng và hiệu quả hơn. Nghiên cứu này đánh giá kết quả điều trị bằng phác đồ 6 tháng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên.

1.1. Tình Hình Bệnh Lao Trên Thế Giới Thách Thức Toàn Cầu

Bệnh lao tồn tại hàng ngàn năm và không quốc gia nào tránh khỏi. Robert Koch phát hiện ra trực khuẩn lao năm 1882. Kháng sinh đầu tiên ra đời năm 1944, giúp giảm đáng kể số ca bệnh. Tuy nhiên, từ những năm 1970-1990, bệnh lao có xu hướng gia tăng trở lại. Năm 1993, TCYTTG tuyên bố bệnh lao là vấn đề khẩn cấp toàn cầu. Đến năm 2003, 182 quốc gia thực hiện chiến lược DOTS. Theo TCYTTG năm 2013, 1/3 dân số thế giới nhiễm lao, với hàng triệu ca mắc mới và tử vong mỗi năm. Tình hình lao/HIV và lao kháng thuốc vẫn là vấn đề nghiêm trọng.

1.2. Bệnh Lao Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp

Công tác phòng chống lao ở Việt Nam được thực hiện từ năm 1957. Năm 1995, hoạt động này được công nhận là mục tiêu y tế quốc gia. Việt Nam hiện đứng thứ 12 trong số các nước có số người bệnh lao cao trên thế giới. Tỷ lệ người bệnh lao mới là 144/100.000 dân. Tỷ lệ kháng đa thuốc ở người bệnh lao mới là 4%. Nguy cơ nhiễm lao hàng năm là 1,67. Việt Nam xếp vào mức trung bình cao so với toàn cầu về bệnh lao. Việc áp dụng các phác đồ điều trị hiệu quả, như phác đồ 6 tháng, là rất quan trọng.

II. Vấn Đề Cấp Thiết Đánh Giá Phác Đồ 6 Tháng Tại Thái Nguyên

Năm 2014, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên bắt đầu áp dụng phác đồ 6 tháng để điều trị lao phổi mới AFB(+). Đây là một thay đổi quan trọng, thu hút sự quan tâm của Chương trình Chống Lao Quốc gia (CTCLQG). Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá cụ thể kết quả của phác đồ này tại bệnh viện. Nghiên cứu này nhằm mô tả kết quả điều trị và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Mục tiêu là cung cấp bằng chứng khoa học để cải thiện hiệu quả điều trị lao phổi.

2.1. Định Nghĩa Lao Phổi AFB Và Lao Phổi Mới

Lao phổi AFB(+) là trường hợp có ít nhất một mẫu đờm hoặc dịch phế quản có kết quả soi trực tiếp AFB(+) tại các phòng xét nghiệm được kiểm chuẩn bởi Chương trình chống lao Quốc gia. Lao phổi mới AFB(+) là những trường hợp có AFB(+) trong đờm được phát hiện lần đầu, chưa được điều trị thuốc lao bao giờ hoặc đã điều trị thuốc lao nhưng thời gian chưa quá 1 tháng (theo Hiệp hội Lao và Bệnh phổi thế giới).

2.2. Nguyên Nhân Gây Bệnh Lao Phổi Vi Khuẩn Koch

Vi khuẩn gây bệnh lao phổi là Mycobacterium tuberculosis (vi khuẩn Koch). Bệnh nhân lao phổi là nguồn lây bệnh chủ yếu, đặc biệt là bệnh nhân đang ho khạc ra vi khuẩn lao bằng xét nghiệm soi kính trực tiếp AFB(+). Đây là nguồn lây chủ yếu làm cho bệnh lao tồn tại ở mọi quốc gia qua nhiều thế kỷ.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đánh Giá Hiệu Quả Phác Đồ 6 Tháng

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp mô tả, tiến cứu và hồi cứu. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) được điều trị bằng phác đồ 6 tháng (2RHZE/4RHE) tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên. Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân được xác định rõ ràng. Nghiên cứu thu thập dữ liệu về lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị cũng được phân tích. Mục tiêu là đánh giá một cách toàn diện hiệu quả của phác đồ 6 tháng.

3.1. Đối Tượng Nghiên Cứu Bệnh Nhân Lao Phổi AFB Mới

Bệnh nhân nghiên cứu là những người được chẩn đoán lao phổi AFB dương tính lần đầu và được điều trị bằng phác đồ 6 tháng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên. Các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ được áp dụng để đảm bảo tính đồng nhất của nhóm nghiên cứu.

3.2. Phác Đồ Điều Trị 6 Tháng 2RHZE 4RHE Chi Tiết Thực Hiện

Phác đồ điều trị 6 tháng (2RHZE/4RHE) bao gồm giai đoạn tấn công (2 tháng) và giai đoạn duy trì (4 tháng). Các thuốc được sử dụng là Rifampicin (R), Isoniazid (H), Pyrazinamide (Z) và Ethambutol (E). Quá trình điều trị được theo dõi và giám sát chặt chẽ để đảm bảo tuân thủ và phát hiện sớm các tác dụng phụ.

3.3. Tiêu Chuẩn Đánh Giá Kết Quả Điều Trị Lâm Sàng Và Cận Lâm Sàng

Kết quả điều trị được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng (triệu chứng, khám thực thể) và cận lâm sàng (xét nghiệm đờm, X-quang phổi). Các chỉ số sinh hóa máu và công thức máu cũng được theo dõi để đánh giá tác dụng phụ của thuốc.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tỷ Lệ Thành Công Điều Trị Lao Phổi Cao

Nghiên cứu cho thấy phác đồ 6 tháng (2RHZE/4RHE) có hiệu quả cao trong điều trị lao phổi mới AFB(+) tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên. Tỷ lệ chuyển đổi âm tính sau giai đoạn tấn công là đáng kể. Tỷ lệ thành công điều trị chung là cao. Tuy nhiên, một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị, như tuổi, giới tính, mức độ tổn thương phổi và tác dụng phụ của thuốc. Cần có các biện pháp can thiệp để cải thiện kết quả điều trị ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ.

4.1. Đặc Điểm Chung Của Bệnh Nhân Nghiên Cứu Tuổi Giới Tính Nghề Nghiệp

Phân tích đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu về tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tiền sử bệnh tật và các yếu tố nguy cơ mắc lao. Các thông tin này giúp hiểu rõ hơn về đối tượng bệnh nhân và các yếu tố liên quan đến bệnh.

4.2. Kết Quả Điều Trị Của Phác Đồ 6 Tháng Tỷ Lệ Chuyển Đổi Âm Tính

Đánh giá kết quả điều trị của phác đồ 6 tháng, bao gồm tỷ lệ chuyển đổi âm tính sau giai đoạn tấn công, tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ thất bại điều trị và tỷ lệ tái phát. Các kết quả này cho thấy hiệu quả của phác đồ trong việc tiêu diệt vi khuẩn lao.

4.3. Phân Tích Yếu Tố Ảnh Hưởng Kết Quả Điều Trị Tuổi Giới Tính Mức Độ Tổn Thương

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị, như tuổi, giới tính, mức độ tổn thương phổi, tác dụng phụ của thuốc và tuân thủ điều trị. Các yếu tố này giúp xác định những bệnh nhân có nguy cơ thất bại điều trị cao và cần được theo dõi sát sao hơn.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Cải Thiện Điều Trị Lao Phổi Tại Thái Nguyên

Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện điều trị lao phổi tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên. Các bác sĩ có thể sử dụng thông tin này để lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp, theo dõi sát sao bệnh nhân có yếu tố nguy cơ và quản lý tác dụng phụ của thuốc. Nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng khoa học để CTCLQG xem xét và điều chỉnh các hướng dẫn điều trị. Mục tiêu cuối cùng là giảm gánh nặng bệnh lao và cải thiện sức khỏe cộng đồng.

5.1. Đề Xuất Các Giải Pháp Cải Thiện Tăng Cường Tuân Thủ Điều Trị

Đề xuất các giải pháp để cải thiện kết quả điều trị, như tăng cường tuân thủ điều trị, quản lý tác dụng phụ của thuốc, cải thiện dinh dưỡng cho bệnh nhân và tăng cường giáo dục sức khỏe.

5.2. Khuyến Nghị Cho Chương Trình Chống Lao Quốc Gia Điều Chỉnh Hướng Dẫn

Khuyến nghị cho Chương trình Chống Lao Quốc gia về việc điều chỉnh hướng dẫn điều trị dựa trên kết quả nghiên cứu, như xem xét sử dụng phác đồ 6 tháng cho các đối tượng bệnh nhân phù hợp và tăng cường giám sát các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ.

VI. Kết Luận Phác Đồ 6 Tháng Bước Tiến Trong Điều Trị Lao Phổi

Phác đồ 6 tháng (2RHZE/4RHE) là một bước tiến quan trọng trong điều trị lao phổi mới AFB(+). Nghiên cứu tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên đã chứng minh hiệu quả của phác đồ này. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu và cải thiện để tối ưu hóa kết quả điều trị và giảm gánh nặng bệnh lao. Việc áp dụng các phác đồ điều trị ngắn ngày và hiệu quả là chìa khóa để kiểm soát bệnh lao trên toàn cầu.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu Hiệu Quả Và Các Yếu Tố Ảnh Hưởng

Tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, bao gồm tỷ lệ thành công điều trị, các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị và các giải pháp cải thiện.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Đánh Giá Phác Đồ Mới Lao Kháng Thuốc

Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo, như đánh giá các phác đồ điều trị mới, nghiên cứu về lao kháng thuốc và các biện pháp phòng ngừa bệnh lao.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ kết quả điều trị bệnh nhân lao phổi mới afb bằng phác đồ 6 tháng 2rhze 4rhe tại bệnh viện lao và bệnh phổi thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bước sang thế kỷ XXI bệnh Lao tiếp tục là một thách thức lớn đối với nhân loại, hàng năm có 8 triệu trường hợp lao mới và 1,5 triệu người bị chết do căn bệnh này [71], [72], [73], [74]. Rút ngắn thời gian điều trị bệnh lao là một trong những mong muốn của các chuyên gia điều trị trong lĩnh vực lao. Đầu thế kỷ XIX bệnh lao điều trị với thời gian là 24 tháng, tiếp sau là 18 và 12 tháng, mãi cho đến những năm 1980, hóa trị ngắn ngày ra đời có thời gian điều trị bệnh lao chỉ còn là 8 tháng [67], [68], [75]. Năm 2010, TCYTTG khuyến cáo sử dụng phác đồ điều trị 6 tháng (2RHZE/4RHE) có rifampicin và không dùng phác đồ điều trị 8 tháng (2SRHZ(E)/6HE) do những bằng chứng nghiên cứu về hiệu quả của phác đồ điều trị 6 tháng.

Cho đến nay, nhiều nước trên thế giới đã sử dụng phác 6 tháng (2RHZE/4RHE) để điều trị cho bệnh nhân lao mới [74]. Việt Nam là nước nhiều năm đứng thứ 12 trong 22 nước có tỷ lệ bệnh lao cao nhất thế giới. Nước ta thực hiện chiến lược điều trị lao bằng hóa trị ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp (tiếng Anh: DOTS) bao phủ 100% dân số trên toàn quốc, điều trị bệnh lao theo các công thức 8 tháng. Chương trình chống lao quốc gia (CTCLQG) vẫn gặp nhiều khó khăn và thách thức để kiểm soát căn bệnh nguy hiểm này [38], [44], [49].

Áp dụng công thức 6 tháng trong cộng đồng nhằm điều trị bệnh nhân lao tốt hơn, nhanh chóng hơn là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong tình hình dịch tễ bệnh lao tại Việt Nam hiện nay. Năm 2014, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên (BVL&BPTN) áp dụng phác đồ 6 tháng trong điều trị lao phổi mới AFB (+). Đây là một thay đổi chuyên môn lớn rất được sự quan tâm của CTCLQG cũng như thầy thuốc chuyên khoa về những kết quả của phác đồ [15], [19], [20], [21]. Tuy nhiên, tại Bệnh viện Lao & Bệnh phổi Thái Nguyên chưa có một c 2 nghiên cứu nào về kết quả của việc áp dụng phác đồ 6 tháng (2RHZE/4RHE) trên những bệnh nhân lao phổi mới AFB (+).

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu: 1. Mô tả kết quả điều trị bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) điều trị phác đồ 6 tháng (2RHZE/4RHE) tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên; 2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị.1 Tình hình bệnh lao 1.1 Bệnh lao trên Thế giới Bệnh lao gắn liền với xã hội loài người hàng ngàn năm nay, trên thế giới không một quốc gia nào, một khu vực nào, một dân tộc nào không có bệnh lao và người chết do lao [37], [60]. Cuối thế kỷ XIX người ta mới biết được nguyên nhân gây ra căn bệnh nguy hiểm đó là do trực khuẩn lao đã được Robert Koch - nhà khoa học người Đức phát hiện ra năm 1882 [31], [60], [63].

Năm 1944 kháng sinh diệt vi trùng lao đầu tiên ra đời tại Mỹ được phát hiện bởi Wakman có tên là Streptomycin, sau đó các thuốc chữa lao khác như: PAS, INH, PZA, EMB, RMP. được dùng vào chữa lao. Bệnh lao đã giảm đi đáng kể ở các nước và người ta hy vọng bệnh lao không còn là bệnh xã hội quan trọng nữa, mà chỉ là một bệnh nhiễm khuẩn thông thường [45], [69]. Trong khoảng những năm 1970 – 1990 nhiều quốc gia trên thế giới đã rất lạc quan trong công tác phòng chống lao (PCL).

Năm 1982, kỷ niệm 100 năm ngày Robert Koch phát hiện ra vi khuẩn lao, tại nước Đức khẩu hiệu “Chiến thắng bệnh lao bây giờ và vĩnh viễn” đã được đưa ra. Năm 1982 tại Hội nghị Quốc tế chống lao lần thứ XXI ở Buenos Aires định nghĩa về thanh toán bệnh lao được đề cập. Năm 1986 tại Hội nghị Quốc tế chống lao lần thứ XXII ở Singapore các nước như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hà Lan. vẫn còn nêu thời điểm thanh toán bệnh lao ở nước mình.

Năm 1990 tại hội nghị Quốc tế chống lao lần thứ XXIII ở Boston (Hoa Kỳ), người ta nhận thấy bệnh lao không giảm mà có xu hướng gia tăng ở nhiều nước. Bệnh lao không chỉ gia tăng ở nước đang phát triển, mà cả ở những nước phát triển. Tháng 4 năm 1993 Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã thông báo đến chính phủ các nước “Bệnh lao đã quay trở lại và trở thành vấn đề khẩn cấp toàn cầu” [72], [73], [74]. c 4 Tính đến năm 2003 đã có 182 quốc gia thực hiện chiến lược DOTS.

Mặc dù có nhiều nỗ lực cộng tác của WHO, của các quốc gia, của nhiều cá nhân trong việc khuyến khích, thiết lập và tiến hành nhằm nâng cao hiệu quả Chương trình chống lao quốc gia (CTCLQG) ở nhiều nước nhưng các tiến trình đó vẫn còn chậm. Theo TCYTTG năm 2013, 1/3 dân số thế giới đã nhiễm lao, 9 triệu người mắc lao mới xuất hiện tương đương tỷ lệ 139/100.000 dân; 1,5 triệu người chết do lao hàng năm, trong đó có 360000 HIV (+); 3,5 triệu trường hợp mắc lao kháng đa thuốc. Số người bệnh lao tập trung chủ yếu ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nam phi và Nigeria. Bệnh lao có mặt ở khắp nơi trên thế giới [68], [70], [71], [80].

Tình hình lao/HIV và lao kháng thuốc vẫn đang là vấn đề nghiêm trọng trên toàn cầu, đe dọa sự thành công của công tác chống lao. Số lượng bệnh nhân đồng nhiễm lao /HIV và số bệnh nhân kháng đa thuốc (MDR-TB) tiếp tục tăng. Năm 2007, ước tính có khoảng 0,5 triệu bệnh nhân lao kháng đa thuốc. Tính đến cuối năm 2008 bệnh nhân lao siêu kháng thuốc (XDR) đã được báo cáo tại 55 quốc gia và vùng lãnh thổ [15], [19], [20], [36].2 Bệnh lao ở Việt Nam Công tác phòng chống lao (PCL) ở Việt Nam được tổ chức thực hiện từ năm 1957, với sự thành lập Viện chống lao Trung ương, sau đổi tên là Viện Lao và Bệnh phổi Trung ương, Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Trung ương, năm 2009 lại tiếp tục đổi tên là Bệnh viện Phổi Trung ương.

Năm 1995 hoạt động PCL được nhà nước công nhận là một trong những mục tiêu y tế quốc gia và hình thành ban chỉ đạo CTLQG từ trung ương đến cơ sở xã, thị trấn. Năm 2014 được chính phủ phê duyệt là chương trình quốc gia. Tại Việt Nam tỷ lệ người bệnh lao mới các thể là 144/100. Năm 2013, tỷ lệ hiện mắc các thể là 209/100.

Tỷ lệ tử vong do lao là 19/100. Tỷ lệ kháng đa thuốc ở người bệnh lao mới là 4%. Tỷ lệ kháng đa thuốc ở người bệnh lao đã điều trị c 5 là 23%. Việt Nam đứng thứ 12 trong số 22 nước có số người bệnh lao cao trên thế giới.

Ở khu vực Tây - Thái Bình Dương Việt Nam là nước đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philippines về số lượng người bệnh lao. Nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở nước ta hiện nay là 1,67. Bệnh lao ở nước ta xếp vào mức trung bình cao so với toàn cầu [13], [15], [19], [20], [21].2 Lao phổi mới AFB (+) và bệnh lao phổi 1.1 Định nghĩa Khái niệm lao phổi AFB (+): là trường hợp có ít nhất 1 mẫu đờm hoặc dịch phế quản, dịch dạ dày có kết quả soi trực tiếp AFB(+) tại các phòng xét nghiệm được kiểm chuẩn bởi Chương trình chống lao Quốc gia [8]. Định nghĩa: Lao phổi mới AFB (+) là những trường hợp có AFB (+) trong đờm được phát hiện lần đầu, chưa được điều trị thuốc lao bao giờ hoặc đã điều trị thuốc lao nhưng thời gian chưa quá 1 tháng (theo Hiệp hội Lao và Bệnh phổi thế giới) [8].2 Nguyên nhân Vi khuẩn gây bệnh lao phổi là Mycobacterium tuberculosis (vi khuẩn Koch), chúng được phân lập bởi Robert Koch năm 1882.

Bệnh nhân lao phổi là nguồn lây bệnh chủ yếu trong lao, đặc biệt là bệnh nhân đang ho khạc ra vi khuẩn lao bằng xét nghiệm soi kính trực tiếp AFB(+). Đây là nguồn lây chủ yếu làm cho bệnh lao tồn tại ở mọi quốc gia qua nhiều thế kỷ [3], [6], [30].3 Sinh bệnh học Cơ thể mắc bệnh chủ yếu qua con đường hít phải vi khuẩn lao có trong không khí, chúng nằm trong những hạt nhỏ có kích thước từ 1 - 5µm sau khi lọt qua cơ chế bảo vệ của đường thở vào tận phế nang. Vi khuẩn lao bị thực bào bởi các đại thực bào phế nang và di chuyển về các hạch lympho (vùng hạch rốn phổi), nếu vi khuẩn vượt qua sự khống chế ở hạch rốn phổi, chúng sẽ lan tràn c 6 theo đường máu đến các cơ quan gây lao sơ nhiễm. Đa phần những tổn thương ban đầu ở các cơ quan do những vi khuẩn này thường tự lành, tuy nhiên chúng có thể ổn định và tái hoạt động trở lại vào một thời điểm nào đó gây nên bệnh lao hoạt động [39], [46].

Trong khoảng 2 - 10 tuần sau khi vi khuẩn lao xâm nhập lần đầu tiên, vi khuẩn lao tiếp tục tồn tại trong môi trường nội bào, cơ thể vật chủ sẽ hình thành đáp ứng miễn dịch. Đã từ lâu người ta biết rằng kháng thể dịch thể không có vai trò độc lập trong miễn dịch bảo vệ chống vi khuẩn lao. Nhiều nghiên cứu về đáp ứng miễn dịch trong lao được tập trung vào phân tích vai trò của miễn dịch tế bào với 2 phản ứng chủ đạo: miễn dịch bảo vệ còn được gọi là miễn dịch qua trung gian tế bào CMI (cell mediated immunity) và phản ứng quá mẫn muộn DHR (delayed hypersensitivity reaction), mà mối quan hệ giữa chúng vẫn chưa được rõ. Theo một số tác giả, CMI được hình thành dưới tác động của các cytokin, còn DHR dưới tác động của các chemokin.

Một yếu tố quan trọng đứng giữa hai cơ chế này, hỗ trợ cho quá trình chống lại mycobacteria nhưng cũng đóng vai trò chính trong việc bùng nổ và khếch đại chemokin là yếu tố hoại tử u TNF (Tumor Necrosis Factor) [37], [39], [46], [55]. Sơ nhiễm lao (primary tuberculosis) là hiện tượng sinh học xảy ra khi một cơ thể lần đầu tiên tiếp xúc với vi khuẩn lao. Có 95,0% các trường hợp sơ nhiễm không biểu hiện triệu chứng hoặc chỉ có rất ít biểu hiện lâm sàng giống như nhiễm lạnh thông thường. Chỉ có 5,0% các trượng hợp phát triển thành bệnh, trong những trường hợp này, luôn có hiện tượng chuyển phản ứng da từ âm tính thành dương tính và thường liên quan với trẻ nhỏ tuổi (dưới 5 tuổi) [55], [65].

Tuy nhiên sơ nhiễm lao có thể xảy ra bất kỳ thời gian nào, khi cơ thể hít vào những hạt nhỏ có chứa vi khuẩn mà trước đó chưa bao giờ phơi nhiễm với c 7 vi khuẩn lao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Kết Quả Điều Trị Bệnh Nhân Lao Phổi AFB (+) Bằng Phác Đồ 6 Tháng Tại Bệnh Viện Lao Và Bệnh Phổi Thái Nguyên cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của phác đồ điều trị lao phổi kéo dài 6 tháng tại một bệnh viện chuyên khoa. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ tỷ lệ thành công trong việc điều trị bệnh nhân mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin quý giá về phương pháp điều trị, cũng như những khuyến nghị cho việc cải thiện quy trình chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân lao phổi.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và điều trị, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Công tác xã hội trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trong cộng đồng từ thực tiễn phường an phú thị xã thuận an tỉnh bình dương, nơi đề cập đến vai trò của công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Bên cạnh đó, tài liệu Đánh giá thực trạng công tác khám giám định y khoa cho người tham gia kháng chiến bị phơi nhiễm chất độc hóa học tỉnh tuyên quang năm 2014 2015 cũng sẽ cung cấp cái nhìn về các vấn đề y tế liên quan đến những người đã tham gia kháng chiến. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Báo thị lưu vân phân tích thực trạng kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện ninh phước tỉnh ninh thuận năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực y tế.