ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đột quỵ não là nguyên nhân thứ hai tử vong hàng đầu cho những người trên 60 tuổi và là nguyên nhân thứ năm ở những người trong độ tuổi từ 15 đến 59 tuổi. Mỗi năm, gần sáu triệu người trên thế giới chết vì đột quỵ não. Cứ 6 người thì có 1 người có cơn đột quỵ não gặp phải trong cuộc đời của họ [73]. Đột quỵ não là một vấn đề quan tâm lớn của toàn cầu, nhưng gánh nặng do đột quỵ não đặc biệt nghiêm trọng ở châu Á, một khu vực hiện nay có tỉ lệ già hóa nhanh chóng và số ca mắc đột quỵ não cũng tăng lên vì thế đòi hỏi thời gian chăm sóc dài hạn và tốn kém về kinh tế.
Trái lại, tỉ lệ sinh ngày càng thấp, hệ thống y tế xã hội chưa phát triển dẫn tới tăng khoảng cách giữa yêu cầu số về người chăm sóc và chất lượng của người cung cấp chăm sóc điều đó đã dẫn tới áp lực chăm sóc và gánh nặng chăm sóc [58]. Đột quỵ não là một biến cố nghiêm trọng ảnh hưởng tới tất cả các khía cạnh đời sống của mỗi cá nhân mắc phải. Sự tác động của đột quỵ não tới mỗi cá nhân thường không lường trước được, khá nghiêm trọng, thường đòi hỏi sự thay đổi điều chỉnh trong lối sống và tâm lý của người mắc phải [45]. Thời gian dành cho việc chăm sóc, lo lắng và sự mất khả năng của NB là những yếu tố lên quan mật thiết tới gánh nặng chăm sóc [55].
Người chăm sóc trong gia đình không chỉ cung cấp cho các hoạt động chăm sóc hằng ngày như việc tắm rửa, mặc quần áo, giúp đỡ trong việc di chuyển xung quanh [53]. Y học ngày càng tiến bộ không ngừng, các phương tiện chẩn đoán và điều trị hiện đại giúp cho việc chẩn đoán chính xác, điều trị hiệu quả, chăm sóc tốt hơn. Hiện nay công tác chăm sóc NB ĐQN của điều dưỡng đã được các trung tâm điều trị về thần kinh trên thế giới áp dụng rộng rãi. Ở Việt Nam cũng đã áp dụng từ lâu công tác chăm sóc NB ĐQN.
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế hạn hẹp nên cơ sở hạ tầng của đa số các bệnh viện còn thiếu thốn. Kiến thức về chăm sóc NB đột quỵ não cũng còn hạn chế nên sự chăm sóc đối với NB chưa được kịp thời và toàn diện. Hậu quả là tỷ lệ tử vong và tàn tật của NB ĐQN còn cao. Vậy, thực trạng chăm sóc NB ĐQN tại khoa Nội 2 - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng như thế nào và yếu tố nào liên quan đến? thì đến nay vẫn chưa biết được do đến thời điểm này vẫn chưa nghiên cứu.
Thang Long University Library 2 Để trả lời các câu hỏi đặt ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh đột quỵ não và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng năm 2020 - 2021” nhằm mục đích biết được kết quả chăm sóc NB ĐQN và một số yếu tố liên quan, để từ đó kiến nghị đến các cấp, các ngành nhằm triển khai, thực hiện chăm sóc, điều trị NB ĐQN ngày một tốt hơn. Để đạt được các mục đích trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với các mục tiêu cụ thể như sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng năm 2020 – 2021. Phân tích kết quả chăm sóc và một số yếu tố liên quan.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh Đột quỵ não 1. Định nghĩa đột quỵ não Theo tổ chức y tế thế giới WHO (1990) đã định nghĩa đột quỵ não là “dấu hiệu phát triển nhanh chóng trên lâm sàng của một rối loạn khu trú chức năng của não kéo dài trên 24 giờ và thường do nguyên nhân mạch máu não”. Đột quỵ do sự gián đoạn của dòng máu trong não, thường do mạch máu não bị vỡ ra gọi là xuất huyết não hoặc do cục máu đông chặn lại dòng lưu thông của mạch não được gọi là nhồi máu não, dẫn tới sự cắt đứt việc cung cấp ô xy và dinh dưỡng cho các tế bào não [5].
Phân loại đột quỵ não Căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh, ĐQN được chia ra 2 thể nhồi máu não và xuất huyết não [16]. Nhồi máu não Tắc mạch não (nhồi máu não): Là một quá trình bệnh lý mà mạch não bị hẹp lại làm giảm hoặc tắc lưu thông tuần hoàn tại vùng não do động mạch đó cung cấp [18]. Trong tắc mạch não có ba loại chính, trong mỗi loại có một cơ chế tổn thương mạch máu khác nhau hay giảm lưu lượng dòng máu khác. Ba thể thường được đề cập nhiều là huyết khối, tắc mạch và giảm tưới máu hệ thống [11].
Yếu tố nguy cơ: Theo Nguyễn Thị Xuyên (2008) có hơn 20 yếu tố nguy cơ gây nhồi máu khác nhau trong đó các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được là: tăng huyết áp 60-70%, rung nhĩ 15-20%, đái tháo đường 12-15%, còn lại là một số nguy cơ như béo phì, nghiện rượu, stress, ít vận động, thuốc lá, rối loạn chuyển hóa. Các yếu tố nguy có không thay đổi được là: nam có tỉ lệ mắc gấp 2 lần nữ, tuổi cao (thường sau 55 tuổi), da đen dễ mắc hơn da trắng và da vàng [44]. Xuất huyết não Trong số NB ĐQN thì chỉ có 20-25% chảy máu não, nhưng nó là nguyên nhân gây tử vong tới 50% do đột quỵ [50]. Chảy máu não được định nghĩa là hiện tượng máu chảy từ hệ thống động mạch, tĩnh mạch não chảy vào tổ chức não, ít nhiều đều tạo thành ổ máu tụ trong não gây ra các triệu chứng thần kinh tương ứng.
Được phân ra các thể sau: chảy máu trong nhu mô não, chảy máu nhu mô não-tràn não thất, chảy Thang Long University Library 4 máu não thất nguyên phát, chảy máu dưới nhện, chảy máu sau nhồi máu não, trong số đó hay gặp nhiều nhất chảy máu trong nhu mô não [16]. Nguyên nhân đột quỵ não ĐQN xảy ra khi việc cung cấp máu đến não bị gián đoạn. Máu được đưa tới não thông qua mạch máu, được gọi là động mạch. Máu có chứa ô-xy và các chất dinh dưỡng quan trọng cho các tế bào não của bạn.
Dòng máu có thể bị gián đoạn hoặc ngừng di chuyển trong động mạch do động mạch bị tắc nghẽn (nhồi máu não) hoặc bị vỡ (chảy máu não). Khi các tế bào não không nhận đủ ô-xy hoặc các chất dinh dưỡng, chúng sẽ chết. Khu vực não bị tổn thương được gọi là ổ nhồi máu não. Các động mạch của não Tăng huyết áp là nguyên nhân hay gây chảy máu não nhiều nhất, do áp lực lòng mạch máu tăng, làm vỡ mạch máu trong não, nhu mô não, dẫn tới máu không được cung cấp cho các khu vực sau chỗ bị vỡ [18].
Thoái hóa mạch máu dạng tinh bột, dị dạng mạch máu: phình động mạch, dị dạng động tĩnh mạch, chảy máu não sau nhồi máu, chảy máu não do viêm động mạch hoặc tĩnh mạch, dùng thuốc chống đông, các nguyên nhân khác ít gặp: Chảy máu chưa rõ nguyên nhân, bệnh ưa chảy máu, hồng cầu hình liềm, bệnh bạch cầu …[16]. Hai thể đột quỵ não 1. Biểu hiện lâm sàng [43]. Các triệu chứng cảnh báo đột quỵ não Nếu tự nhiên đang trong tình trạng sức khỏe bình thường mà thấy các triệu chứng sau thì có khả năng rất cao bạn đang bị đột quỵ: Hình 1.
Các biểu hiện đột quỵ não 1. Các triệu chứng thần kinh khu trú * Các triệu chứng vận động: - Liệt hoặc biểu hiện vụng về nửa người hoặc một phần cơ thể. - Liệt đối xứng. * Rối loạn thăng bằng.
* Rối loạn ngôn ngữ: Thang Long University Library 6 - Khó khăn trong việc hiểu hoặc diễn đạt bằng lời nói. Khó khăn khi đọc, viết. - Khó khăn trong tính toán. * Các triệu chứng cảm giác, giác quan: - Cảm giác thân thể (rối loạn cảm giác từng phần hoặc toàn bộ nửa người).
* Các triệu chứng tiền đình: Cảm giác chóng mặt quay cuồng, nôn hoặc buồn nôn * Các triệu chứng tư thế hoặc nhận thức: Khó khăn trong việc mặc quần áo, chải tóc, đánh răng, rối loạn định hướng không gian, gặp khó khăn trong việc mô phỏng lại. * Các triệu chứng thần kinh khác: Rối loạn ý thức, rối loạn cơ vòng, rối loạn tâm thần, hội chứng màng não. Cận lâm sàng 1. Chụp cắt lớp vi tính (Computed Tomography – CT) Ưu điểm chính của của chụp cắt lớp vi tính là tính sẵn có và tiến hành kỹ thuật một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí so với chụp cộng hưởng từ.
Hình ảnh CT của ngƣời bệnh đột quỵ não Trong giai đoạn tối cấp, chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang thường được chỉ định để loại trừ hoặc xác định chảy máu não. Chụp không tiêm thuốc cản quang cần được tiến hành càng sớm càng tốt trong điều kiện cho phép [69]. Các dấu hiệu nhồi máu sớm trên phim chụp cắt lớp vi tính không cản quang: Trong giai đoạn tối cấp, trên phim chụp cắt lớp vi tính hầu như chưa thấy ổ giảm tỷ trọng. Độ nhạy của chụp tiêu chuẩn không tiêm thuốc cản quang đối với nhồi máu não tăng dần theo thời gian, đặc biệt sau 24 giờ.
Các dấu hiệu sớm của nhồi máu não trên 7 phim bao gồm: Giảm nhẹ tỷ trọng từ một phần ba thể tích thuộc khu vực chi phối của động mạch não giữa trở lên; Mờ ranh giới nhân bèo; Mờ các rãnh cuộn vỏ não; Giảm nhẹ tỷ trọng nhu mô vỏ não; Mất đường viền thùy đảo hoặc mờ khe Sylvius; Tăng tỷ trọng động mạch lớn, ví dụ như dấu hiệu tăng tỷ trọng động mạch não giữa; Mất ranh giới phân biệt giữa chất trắng và chất xám ở các nhân nền. Tăng tỷ trọng động mạch não giữa cho thấy sự có mặt của huyết khối trong lòng mạch. Dấu hiệu này có thể quan sát thấy trên phim chụp cắt lớp vi tính thường quy ở khoảng từ 30% đến 40% số NB bị nhồi máu khu vực động mạch não giữa. Dấu hiệu này có độ đặc hiệu cao đối với tắc động mạch não giữa [70].
Thang điểm ASPECTS đánh giá tổn thương nhồi máu: Thang điểm ASPECTS (The Alberta stroke program early CT score) là một phương pháp đánh giá đơn giản và tin cậy tổn thương thiếu máu cục bộ trên chụp cắt lớp vi tính sọ não. Hiện thang điểm này được ứng dụng tại các đơn vị chẩn đoán thần kinh chuyên sâu và có vai trò quan trọng trong điều trị tiêu huyết khối.