Đặt vấn đề Nêu mục đích, tính cấp thiết của đề tài. Cơ sở luận và phương pháp nghiên cứu Trình bày khái niệm, công thức và phương pháp hạch toán kế toán chỉ phí và tính giá thành sản phẩm. Tổng quan về công ty Nêu ra quá trình hình thành và phát triển, tình hình sản xuất kinh doanh tại công ty. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày quy trình hạch toán chi phí và tính giá thành xây lắp tại công trình Khách sạn BMC_ Thăng long Chương 5.
Kết luận và kiến nghị Qua những vấn đề nghiên cứu đưa ra ưu nhược điểm và tìm ra nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất ý kiến trong công tác kế toán tại công ty. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để đáp ứng được yêu cầu quản lý doanh nghiệp xây lắp cho phù hợp với đặc điểm của sản phẩm và sản xuất xây lắp như hạch toán chi phí sử dụng máy thi công, hạch toán chi phi sản xuất chung, tổng thần, giao thầu nội bộ. Bộ Tài chính ban hành chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp xây lắp theo quyết định số 1864/1998/QĐ/BTC ngày 16 thang 12 năm 1998 của Bộ trưởng Bộ Tài chính được áp dụng cho tat cả các doanh nghiệp xây lắp thuộc mọi thành phan kinh tế kê từ ngày 01 tháng 01 năm 1999. Chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp xây lắp một mặt tôn trọng các quy định hiện hành của Nhà nước vẻ tài chính, kế toán, đảm bảo thống nhất về kết cấu và nguyên tắc hạch toán của chế độ kế toán doanh nghiệp, mặt khác được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với quy định hiện bành của cơ chế tài chính, thuế và phù hợp với đặc điểm của sản xuất xây lắp và sản phẩm xây lắp, thoả mãn yêu cầu quản lý và đầu tư xây dựng.
Sản phẩm xây dựng cơ bản Là hoạt động xây dựng mới mở rộng hay khôi phục cải tạo lại hay hiện đại hoá các công trình hiện có thuộc mọi lĩnh vực trong nên kinh tế quốc dân như các công trình thuỷ lợi, các khu công nghiệp, các công trình quốc phòng và các công trình dân dụng khác. Đó là một hoạt động nhằm tạo ra cở sở vật chất, kỹ thuật cho mọi ngành trong nền kinh tế quốc dân. Chỉ phí sản xuất xây lắp Là biểu hiện bằng tiền về hao phí lao động và các chỉ phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động xây lắp trong một thời kỳ nhất định. Phương pháp và đặc điểm ngành xây lắp 2.
Phương pháp xây lắp Việc tổ chức thi công có thể thực hiện theo phương pháp giao thầu hoặc tự làm. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và kết quả của những cải tiến to lớn về tổ chức kỹ thuật san xuất xây lắp và quan lý trong xây dựng thì hiện nay phương pháp giao thầu được áp dụng phổ biến trong thi công xây lắp. Phương pháp giao thầu được thực hiện theo 2 cách sau: 1) Giao thầu toàn bộ công trình ( Tổng thầu xây dựng) Theo phương thức này chủ đầu tư giao thầu cho một tổ chức xây dựng tất cả các khâu từ khảo sát thiết kế đến việc xây lắp hoàn chỉnh công trình trên cơ sở luận chứng kỹ thuật đã được duyệt. Ngoài ra chủ đầu tư có thé uỷ nhiệm công việc của mình cho tổ chức thầu xây dựng như lập luận chứng kỹ thuật, đặt mua thiết bị, giải phóng mặt bang.
Tuỳ theo khả năng đặc điểm khối lượng công tác xây lắp mà tổng thầu xây dựng có thể đảm nhận toàn bộ hay giao nhận lại cho các đơn vị nhận thầu khác. 2) Giao nhận thầu từng phần Theo phương pháp này chủ đầu tư giao tửng công việc cho các đơn vị như: - _ Một tổ chức nhận thầu lập luận chứng kinh tế kỹ thuật của công trình gồm giám sát, điều tra dé lập luận chứng. - _ Một tổ chức nhận thầu về tổ chức khảo sát thiết kế toàn bộ công trình từ bước thiết kế kỹ thuật và tông đự toán công trình cho đến bước lập bản vẽ thi công và lập dự toán chỉ tiết các hạng mục công trình (HMCT). - - Một tổ chức nhận thầu xây lắp từ công tác chuẩn bị xây lắp và xây dựng toàn bộ công trình trên cơ sở thiết kế kỹ thuật thi công đã được duyệt.
Hoặc theo phương pháp này, chủ đầu tư giao thầu cho nhiều tổ chức xây ¬ dựng nhận gói thầu từng HMCT, từng nhóm HMCT độc lập. hoạ t Trong trường hợp này chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức phối hợp CT động của các tổ chức nhận thầu và chỉ áp dụng những công trình, HM mang tính tương đối độc lập. Đặc điểm của ngành xây lắp hàng, San xuất xây lắp là loại sản xuất công nghiệp đặc biệt theo đơn đặt toán chỉ phí, sản phẩm mang tính đơn chiếc riêng lẽ. Do đó kế toán phải hạch ng tính giá thà nh và kết quả thi côn g cho từn g nhó m sản phẩ m xây lắp nếu chú định.
được xây dựng trên cùng một thiết kế mẫu và trên cùng một địa điểm nhất lớn, Đối tượng sản xuất xây dựng cơ bản ( XDCB) thường có khối lượng định đúng giá trị thi công lớn, thời gian thi công tương đối dài. Do đó việc xác đối tượ ng tín h giá thành và chu kỳ tính giá thà nh sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý đắn thi công kịp thời và chặt chế chi phí, đánh giá đúng đắn tình hình quản lý và ng từn g thời kỳ nhấ t địn h và tăng khả năn g qua y vòn g vốn của đơn vị xây lắp. tro Sản xuất XDCB thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp của các các địa yếu 16 môi trường,thời tiết. Sản xuất XDCB thường được thực hiện trên điểm điểm biến động.
Sản phẩm XDCB mang tính chất cố định gắn liền với địa vật chất xây dựng và khí hoàn thành không nhập kho như các ngành sản xuất phí khác. Kế toán phải phản ánh chính xác các chỉ phí và phân bỏ hợp lý các chi đó. Các loại giá thành sản phẩm Gia trị du toán. Được xây dựng trên cơ sở thiết kế kỹ thuật đã được duyệt, các định mức g khu kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định, tính theo đơn giá tổng hợp cho từn vực thi công và phần lợi nhuận định mức của doanh nghiệp xây lắp.
Giá thành dự toán Toàn bộ chỉ phí trực tiếp, gián tiếp tạo nên sản phẩm xây lắp tính theo đơn nước giá tông hợp cho từng khu vực và theo định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà ban hành để xây đựng công trình XDCB: (Z : giá thành) Z dự toán = Giá trị dự toán — Lãi định mức - Thuế GTGT Lãi định mức trong XDCB được Nhà nước xác định trong từng thời kỳ ( 8% - 12% theo giá dự toán). Giá thành kế hoạch Trong điều kiện sản xuất ngày càng phát trién, do trình độ tổ chức sản xuất quản lý ngày càng cao các đơn vị xây lắp có điều kiện nâng cao năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm nguyên liéu.Cho nên đơn vị xây lắp có thể xây dựng được các định mức kinh tế kỹ thuật nội bộ thấp hon so với những định mức kinh tế kỹ thuật của Nhà nước. Vì vậy việc hạ giá thành sản phẩm xây lắp vừa là yêu cầu vừa là khả năng khách quan của các đơn vị xây lắp. Nguyên tắc Z kế hoạch < Z dự toán Z kế hoạch = Z dự toán - Mức hạ Z dự toán 2.
Giá thành định mức Là tổng chỉ phí theo định mức để hoàn thành một đối tượng xây lắp cụ thể. Giá thành định mức được tính toán trên cơ sở đặc điểm kết cấu của công trình, phương pháp tổ chức thi công theo các định mức chi phí đã đạt được ở doanh nghiệp tại thời điểm thi công công trình. Giá thành thực tế Là toàn bộ chỉ phí sản xuất thực tế phát sinh để hoàn thành công tác xây lắp và được xác định theo số liệu kế toán. Đối tượng, phương pháp hạch toán chỉ phí sản xuất sin phẩm xây lắp 2.
Đối tượng hạch toán chỉ phí sản xuất Là các đối tượng dé tập hợp chi phí sản xuất, là phạm vi giới han mà các chỉ phí sản xuất cần được tập hợp theo đó. Xác định đối tượng tập hợp chỉ phí sản xuất là khâu dầu tiên cần thiết của công tác kế toán tập hợp chỉ phí sản xuất. Dé xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phải căn cứ vào đặc điểm phát sinh chi phí và công dụng của chi phi trong sản xuất. Tuỳ theo cơ cấu tổ chức sản xuất, yêu cả.: và trình độ quản lý kinh tế, yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ của doanh nghiệp mà đối tượng tập hợp chỉ phí sản xuất có thể là toàn bộ quy trình công nghệ, hay :ừng giai đoạn, từng quy trình công nghệ riêng biệt.
Tuỳ theo quy trình công nghệ sản xuất của sản phẩm, đặc điểm của sản phẩm, yêu cầu của công tác tính giá thành sản phẩm mà đối tượng tập hợp chỉ phí sản xuất có thể là từng nhóm sản phẩm, từng mặt hàng sản phẩm, từng bộ phận, cụm chỉ tiết hoặc chỉ tiết sản phẩm. Trong sản xuất xây lắp, do đặc điểm của sản phẩm có tính đơn chiếc nên đối tượng hạch toán chỉ phí sản xuất thường là theo từng đơn đặt hàng hoặc cũng có thể là một HMCT, một bộ phận của HMCT, nhóm HMCT. Phương pháp hạch toán chi phí san xuất Sản xuất theo đơn đặt hàng. Sản phẩm trong XDCB là công trình, HMCT hoàn thành.
Phương pháp nay rất đơn giản, hàng tháng chỉ phí sản xuất phát sinh có liên quan đến công trình, HMCT nào đó thì được tập hợp vào đối tượng đó một cách thích hợp. Khi hoàn thành tổng chi phí theo đối tượng hạch toán cũng chính là giá thành sản phẩm xây lắp. Theo bô sản phẩm. Bộ sản phẩm XDCB là các giai đoạn xây lắp của các công trình, HMCT có dự toán riêng.
Hàng tháng, chỉ phí sản xuất phát sinh được tập hợ› cho từng giai đoạn xây lắp có liên quan. Khi hoàn thành tổng cộng các chi phí theo các giai đoạn chính là giá thành sản phẩm xây lắp. Theo nhóm sản phẩm. Được áp dung trong trường hợp doanh nghiệp xây !ắp cùng một lúc thi công nhiều công nhiều công trình, HMCT theo cùng một thiết ké ( hoặc thiết kế gần giống nhau), theo một phương pháp thi công nhất định và trên cùng một địa điềm.
Hàng tháng chỉ phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo nhóm sản phẩm.