Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vật tư và Giày dép xuất khẩu Hải Hưng. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vật tư và Giày dép xuất khẩu Hải Hưng. 6 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.
Một số vấn đề lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất 1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất 1. Khái niệm về chi phí sản xuất Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty phải biết kết hợp 3 yếu tố cơ bản, đó là: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Hao phí của những yếu tố này biểu hiện dưới hình thức giá trị gọi là CPSX.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà Công ty phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn, chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ). Như vậy, CPSX là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa, và các chi phí bằng tiền khác mà Công ty đã chi ra để tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện cung cấp lao vụ, dịch vụ trong một kỳ nhất định. Phân loại chi phí sản xuất a, Phân loại chi phí sản xuất, kinh doanh theo nội dung kinh tế: + Cách phân loại này căn cứ theo tính chất nội dung kinh tế và hình thái nguyên thuỷ ban đầu của chi phí để sắp xếp những chi phí có cùng tính chất vào một yếu tố mà không phân biệt chi phí phát sinh ở đâu và nơi nào chịu chi phí. Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí của Công ty được chia thành 5 yếu tố sau: + Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ… mà Công ty đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ; + Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả, tiền trích bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn mà Công ty phải chịu; + Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định sử dụng trong kỳ; 7 + Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ số tiền Công ty đã chi trả cho các loại dịch vụ mua ngoài như tiền điện, nước, tiền bưu phí…phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình; + Chi phí khác bằng tiền: bao gồm toàn bộ các chi phí khác dùng cho sản xuất, kinh doanh ngoài 4 yếu tố chi phí trên; Phân loại chi phí theo tiêu thức này có ý nghĩa lớn trong quản lý chi phí sản xuất, nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất.
Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố ở bảng thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, tính toán nhu cầu vốn lưu động cho kỳ sau. b, Phân loại chi phí theo mối quan hệ của chi phí với công nghệ sản xuất sản phẩm. Cách phân loại này dựa vào chức năng, tác dụng của các yếu tố chi phí đã chi ra trong kỳ, tức là phải xem xét khoản chi đó được chi ra ở đâu, có tác dụng gì đối với quá trình sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ. Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất, kinh doanh bao gồm chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
+ Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền các nguồn lực đã hao phí trong quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. Nó bao gồm: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí về nguyên liệu, vật liêu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu tiêu hao trực tiếp cho quá trình sản xuất sản phẩm; + Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm chi phí về tiền công, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất; + Chi phí sản xuất chung: nó là chi phí phát sinh ở các bộ phân sản xuất có chức năng phục vụ chung cho quá trình sản xuất sản phẩm, gắn liền với quy trình sản xuất sản phẩm; Ngoài việc phân chia chi phí sản xuất thành 3 khoản mục nói trên, người ta còn phân chia chi phí sản xuất thành 2 loại là chi phí ban đầu và chi phí chế biến. Chi phí ban đầu là giá trị các nguồn lực bắt buộc phải có ngay đầu quy trình 8 công nghệ chế biến sản phẩm, đó là giá trị các loại nguyên, vật liệu chính ở giai đoạn đầu tiên, hoặc giá trị các loại sản phẩm của giai đoạn trước chuyển sang làm vật liệu chính cho giai đoạn này; Chi phí chế biến là chi phí phát sinh trong công nghệ chế biến sản phẩm - Việc phân chia chi phí sản xuất thành chi phí ban đầu và chi phí chế biến có ý nghĩa lớn trong công tác phân bổ chi phí sản xuất cho sản phẩm dở dang và sản phẩm hoàn thành. Trong đó, chi phí ban đầu khi phân bổ cho sản phẩm dở dang và hoàn thành không phụ thuộc vào mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang, còn chi phí chế biến thì phụ thuộc vào mức độ đó; Chi phí ngoài sản xuất là chi phí phát sinh ngoài quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, nó bao gồm: + Chi phí bán hàng: là chi phí phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ; + Chi phí quản lý Công ty: là chi phí phục vụ cho quản lý kinh doanh, quản lý hành chính trên phạm vi toàn Công ty; c, Phân loại chi phí trong quan hệ với lợi nhuận Theo nguyên tắc phù hợp, chi phí sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ được dùng để xác định lợi nhuận phải phù hợp với doanh thu trong kỳ, tức là phải liên quan trực tiếp đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ.
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành 3 loại: + Chi phí sản phẩm: là chi phí sản xuất được tính vào giá thành sản phẩm, dịch vụ loại chi phí này được dùng để xác định lợi nhuận khi sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ + Chi phí thời kỳ: là chi phí ngoài sản xuất được dùng để xác định lợi nhuận trong kỳ phát sinh chi phí; + Chi phí chờ kết chuyển: là chi phí ngoài sản xuất ở những kỳ chưa có doanh thu. d, Phân loại chi phí theo thời điểm phát sinh và thời điểm ghi nhận chi phí. Để ghi nhận một khoản chi phí phát sinh đòi hỏi kế toán phải có đầy đủ chứng từ hợp pháp, hợp lệ, đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp, tức là phải ghi nhận chi phí tương ứng với thời gian phát huy tác dụng các khoản chi. Chính vì vậy, cấu 9 thành chi phí của một kỳ hạch toán nào đó thường bao gồm ba loại chi phí: + Chi phí được cấu thành từ các khoản chi phát sinh trong kỳ: đây là các khoản chi đã có đủ chứng từ hợp pháp, hợp lệ để ghi nhận sự phát sinh của chúng và chúng chỉ phát huy tác dụng trong một kỳ hạch toán.
Chi phí này thường có: chi phí nguyên, vật liệu, chi phí nhân công… + Chi phí trả trước (hay còn gọi là chi phí chờ phân bổ) : là các khoản chi đã có đủ chứng từ hợp pháp, hợp lệ để ghi nhận sự phát sinh của chúng, nhưng chúng phát huy tác dụng trong nhiều kỳ hạch toán. Vì vậy, giá trị của chúng được phân bổ vào chi phí của nhiều kỳ hạch toán khác nhau. + Chi phí trích trước (hay còn gọi là chi phí phải trả) : là các khoản chi chưa có đủ chứng từ hợp pháp, hợp lệ để ghi nhận sự phát sinh của chúng, nhưng hiện tại chúng phát huy tác dụng và Công ty đã lập dự toán quy mô của chúng. Vì vậy, chúng được trích trước vào chi phí theo dự toán.
Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm 1. Khái niệm giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà Công ty bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ. Tổng giá thành Chi phí sản Chi phí sản xuất phát sinh Chi phí sản sản phẩm hoàn = xuất dở + trong kỳ (đã trừ các khoản - xuất dở thành dang đầu kỳ thu hồi ghi giảm chi phí) dang cuối kỳ 1.
Phân loại giá thành sản phẩm Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành được xem xét dưới nhiều góc khái niệm giá thành xã hội, giá thành cá biệt, còn có khái niệm giá thành công xưởng, giá thành toàn bộ, v.v… Xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính toán giá thành, giá thành được chi thành giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế: 10 - Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch; - Giá thành định mức: cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm.