Chương 1: Căn cứ xây dựng đề án về huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Vụ Bản – Bắc Nam Định Chương 2: Nội dung của đề án huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Vụ Bản – Bắc Nam Định Chương 3: Kiến nghị để thực hiện đề án huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Vụ Bản – Bắc Nam Định. 5 Chƣơng 1 CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HUYỆN VỤ BẢN – BẮC NAM ĐỊNH 1. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm huy động vốn của ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Văn Tiến (2024): “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” [13].
Đối với NHTM huy động vốn là nghiệp vụ vô cùng quan trọng và cần thiết, bên cạnh đó còn có nghiệp vụ cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Đây là những nghiệp vụ có quan hệ tác động qua lại như một vòng quay, hỗ trợ nhau phát triển tạo nên một thể thống nhất trong hoạt động kinh doanh của NHTM nhằm thiết lập lên sức mạnh cạnh tranh và mục tiêu kinh doanh cho ngân hàng. Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của các ngân hàng hay còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn với nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm thu hút vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế để phục vụ mục đích kinh doanh của mình. Vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của cac ngân hàng thương mại.
Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút. Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Theo Tô Ngọc Hưng (2022): “Hoạt động huy động vốn là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi 6 tiền theo thỏa thuận” [6].
Vai trò hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Hoạt động huy động vốn của NHTM có vai trò rất quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với khách hàng và xã hội, cụ thể như sau: - Đối với ngân hàng thương mại: Hoạt động huy động vốn giúp tăng cường nguồn vốn của NHTM, là tấm đệm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, từ đó giúp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng trở nên có hiệu quả. + Huy động vốn góp phần giúp ngân hàng thương mại quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng: Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các ngân hàng phải coi uy tín lớn trên thị trường là điều trọng yếu. Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng. Khả năng thanh toán hay khả năng thanh khoản của ngân hàng mà cao thì chứng tỏ vốn khả dụng của ngân hàng đó lớn.
Vì vậy, loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và vốn khả dụng của ngân hàng nói riêng. Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng bù đắp được thiếu hụt trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà qua huy động vốn ngân hàng có thể mở rộng quy mô kinh doanh, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm vừa giữ chữ tín, vừa nâng cao vị thế của ngân hàng đó trên thị trường. + Huy động vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng: Thực tế đã chứng minh, nguồn vốn lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, lãi suất. Kết quả của sự gia tăng trên giúp ngân hàng kinh doanh đa năng trên thị trường, phân tán rủi ro, và khi đó, tất yếu trên thị trường sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng sẽ tăng lên.
Huy động vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo ủy tín của ngân hàng trên thương trường: Ngân hàng hoạt động dựa trên tin tưởng lẫn nhau, uy tín thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao khi vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. 7 Vì vậy, loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và vốn của khả dụng của ngân hàng nói riêng. Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm vừa giữ chữ tín, vừa nâng cao vị thế trên thị trường.
- Đối với khách hàng Nghiệp vụ huy động vốn làm tăng thêm thu nhập cho khách hàng thông qua khoản thu nhập từ lãi, chênh lệch mua bán các loại chứng từ có giá, thu nhập từ quà tặng của hình thức tiết kiệm dự thưởng Cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích vốn tạm thời nhàn rỗi. Cuối cùng, giúp khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng. - Vai trò đối với xã hội Huy động vốn của ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Thông qua huy động vốn, ngân hàng thương mại huy động được khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư để tái đầu tư, điều chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến những nơi thiếu vốn với chi phí thấp nên khắc phục được tình trạng ứ đọng vốn, giúp điều hòa lưu thông tiền tệ, hàng hóa.Thông qua hình thức cấp tín dụng, ngân hàng đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ từ đó tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động giúp họ cải thiện đời sống vật chất, giảm bớt các tệ nạn xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra. Ngân hàng mở rộng cho vay đối với lĩnh vực cần đẩy mạnh, hạn chế cho vay đối với những lĩnh vực cần hạn chế đầu tư giúp nhà nước chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng có lợi. Như vậy với khả năng cung cấp vốn, ngân hàng thương mại đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế quốc gia. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có các hình thức huy động vốn như sau: - Theo loại tiền huy động + Huy động ngoại tệ Đây thực chất là số ngoại tệ ngân hàng huy động được thông qua việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ giữa các doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước, hoặc là số ngoại tệ của các than nhân nước ngoài gửi về cho người nhà trong nước.
+ Huy động nội tệ Là hình thức NHTM huy động bằng đồng Việt Nam thông qua các tổ chức, cá nhân trong nước - Theo phương thức huy động + Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là những giá trị tiền tệ mà khách hàng gửi vào ngân hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu này của người gửi tiền. Đây là tiền của cá nhân và các tổ chức gửi vào ngân hàng với mục đích chính là để đảm bảo an toàn hoặc hưởng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Với tiền gửi không kỳ hạn khách hàng có thể rút ra bất cứ khi nào mà không cần báo trước về thời hạn và số lượng. Do đó tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn biến động nhiều nhất, ngân hàng khó có thể dự đoán về quy mô có thể huy động được và vì vậy tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất rất thấp hoặc không được trả lãi.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là một hình thức để người dân gửi tiền vào ngân hàng sau đó hưởng lãi suất tiết kiệm tương ứng với kỳ hạn gửi. + Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là những giá trị tiền tệ mà khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền và khách hàng không được rút tiền trước thời hạn. Tuy nhiên do áp lực cạnh tranh, các NHTM cho phép khách hàng rút trước thời hạn, tùy theo chính sách của mỗi ngân hàng mà có hình thức trả lãi phù hợp. Mục đích của người gửi tiền là an toàn, hưởng lãi và một số mục đích khác như sử dụng hợp đồng tiền gửi để cầm cố vay vốn, bảo lãnh, … Thông thường, tiền gửi có kỳ 9 hạn có thời hạn dài và lãi suất cao.
Đây là loại tiền gửi có tính ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn số dư vào mục đích kinh doanh. Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng hóa loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng. - Các phương thức huy động khác + Phát hành giấy tờ có giá Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và điều khoản cam kết giữa TCTD và người mua.