Đặt vấn đề Từ ngàn xưa đến nay, sinh-lão-bệnh-tử là bốn giai đoạn mặc định mà cuộc đời bình thường của mỗi người đều phải trải qua. Nhưng loài người luôn cố gắng tìm mọi cách để khắc phục phần nào bệnh tật và kéo dài tuổi thọ và bảo toàn mạng sống. Loài người đã áp dụng những kinh nghiệm dân gian nhằm tạo ra nhiều loại thuốc từ dạng sơ chế đến tinh chế, cô đặc hoặc trích xuất từ các loại thảo dược có sẵn trong tự nhiên để trị bệnh và bồi bổ sức khỏe. Ngày nay việc sử dụng các thảo dược thiên nhiên để phòng và trị bệnh đã trở nên phổ biến hơn, bên cạnh đó nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được tiến hành nhằm tìm kiếm những khả năng trị bệnh.
Trong đó nấm Phục linh là đối tượng nghiên cứu của nhiều quốc gia. Đặc biệt là các nước châu Á, vì nó có nhiều tiềm năng về nguồn dược liệu. Ngoài những giá trị về dinh dưỡng, nấm Phục linh còn có những dược tính quý mà giá trị của nó đã được biết từ lâu. Phục linh được xem như là một loại thuốc trị nhiều bệnh và là một thần dược.
Phục linh có vị ngọt nhạt, tính bình, quy vào kinh tâm, phế, thận, tỳ vị. Phục linh có thể trị được ích khí, minh tâm, kiện tỳ, hòa vị, trừ thấp nhiệt, chống viêm bàng quang, hành khử, chỉ thể. Chủ trị khí hư, lao, thương trướng bụng, phù nước, nhiều đờm, đau bụng nôn ọe, dị tinh, kiệt vong, nhiệt [Nguyễn Văn Lan, 1979]. Các nghiên cứu gần đây cho thấy nấm Phục linh có thể chống khối u, chống oxy hóa, kháng viêm, tăng cường miễn dịch, bảo vệ gan, thận và thải độc tốt [Sun, 2014].
Hiện nay nấm Phục linh đang sử dụng chủ yếu nhập từ Trung Quốc, loại tốt nhất mọc ở Vân Nam gọi là Vân Linh, loại mọc ở Quảng Đông có thể không tốt bằng ở Vân Nam. Ở Việt Nam, loài nấm này phân bố không rộng rãi, mà chỉ tập trung ở một số nơi có khí hậu nhiệt đới núi cao như Đà Lạt, chủ yếu phân bố ở rừng thông ba lá [Đỗ Tất Lợi, 2004]. Năm 1977, đã có phát hiện nấm Phục linh tại Đà Lạt – Lâm Đồng, nhưng việc nuôi trồng loài nấm này ở Việt Nam hầu như chưa có. 2 Tại thị trường Việt Nam, nhu cầu sử dụng nấm Phục linh là thuốc chữa bệnh ngày càng tăng.
Thành phần dược lý có trong nấm Phục linh gồm hai nhóm hợp chất chính: triterpene và polysacarit. Các hợp chất nhỏ khác cũng đã được tìm thấy bao gồm steroid, axit amin, choline, histidine và muối kali [Chang H. Dựa vào tình hình thực tế và nhu cầu về nấm dược liệu ở Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của TS. Trương Bình Nguyên, bước đầu tôi thực hiện đề tài: “Bước đầu xây dựng quy trình nuôi trồng nhân tạo loài nấm Phục linh (Poria cocos) tại Đà Lạt”.
Mục đích Bước đầu xây dựng được quy trình nhân giống và trồng loài nấm dược liệu quý (Wolfiporia cocos) trên vật liệu từ cành nhánh và cây thông ba lá (Pinus kesiya). Yêu cầu Xác định môi trường, độ pH và nhiệt độ nhân giống cấp 1 thích hợp cho sự sinh trưởng hệ sợi nấm Phục linh. Xác định môi trường nhân giống cấp 2 thích hợp cho hệ sợi nấm Phục linh phát triển. Xác định môi trường sản xuất phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển nấm Phục linh trong nhà và bán tự nhiên.
Hạn chế của đề tài Chưa khảo sát về ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh lên quá trình sinh trưởng và phát triển nấm Phục linh. 3 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát về nấm và hình thái học 1.1 Khái quát về nấm Nấm khác với những thực vật xanh: không có lục lạp, không có sự phân hóa thành rễ, thân, lá, không có hoa, phần lớn không chứa cellulose trong thành tế bào, không có một chu trình phát triển chung như thực vật. Nấm chỉ có thể hấp thu chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể từ cơ thể khác hay từ đất qua bề mặt của tế bào hệ sợi nấm. Chính vì thế, tất cả hệ thống phân loại sinh giới hiện nay đều coi nấm là một giới riêng, tương đương với giới thực vật và động vật.
Năm 1969 nhà khoa học người Mỹ R. Whitaker đã đưa ra hệ thống phân loại 5 giới (Kingdom): - Giới khởi sinh (Monera): Gồm vi khuẩn và tảo lam - Giới nguyên sinh (Protista): Gồm một số tảo đơn bào, nấm đơn bào có khả năng di động nhờ lông roi (tiên mao) và các động vật nguyên sinh - Giới nấm (Fungi hay Mycetalia, Mycota) - Giới thực vật (Plantae hay vegetabilia) - Giới động vật (Animalia) Năm 1973 nhà khoa học A. Takhtadjan đưa ra hệ thống phân loại như sau: - Giới Mycota: gồm vi khuẩn và vi khuẩn lam - Giới nấm - Giới thực vật - Giới động vật Năm 1980, Woese căn cứ vào trật tự nucleotid trong acid ribonucleid (ARN) của ribosome 16S và 5S để tách vi khuẩn ra làm hai giới: - Giới vi khuẩn thật (Eubacteria) - Giới vi khuẩn cổ (Archaebacteria) 4 và ông đã gộp nấm, thực vật, động vật thành một giới chung gọi là sinh vật có nhân thật (Eukaryota). Hiện nay, các nghiên cứu về nấm người ta dựa và hệ thống phân loại của R.
Whitaker (1969) và hệ thống phân loại của A. Khóa phân loại nấm hiện đại bao gồm các ngành và ngành phụ như sau: (Allexopolous, 1962) Ngành nấm nhầy (Exomycotina): loài nấm này có cả hai tính chất động vật và thực vật, chúng sinh sản bằng bào tử, nhưng tế bào lại là khối sinh chất không có vách ngăn bao bọc di chuyển và nuốt thức ăn như động vật (amib) Ngành nấm thật (Eumycotina): chiếm số lượng lớn, bao gồm các tế bào với nhân tương đối hoàn chỉnh. Tế bào nấm có vách bao bọc như tế bào thực vật, đa số cấu tạo bởi chitin. Nhiều tế bào nấm còn tích trữ đường ở dạng glycogen, giống như động vật.
Một số loài sinh sản theo lối tạo những giao tử có lông roi để di động (động bào tử), nhưng hợp tử lại phát triển theo một kiểu chung của nấm. Dựa theo sự sinh sản hữu tính, các nhà phân loại đã chia chúng thành các ngành phụ như sau: - Ngành phụ nấm tiên mao (Mastigomycotina) - Ngành phụ nấm tiếp hợp (Zygomycotina) - Ngành phụ nấm túi (Ascomycotina) - Ngành phụ nấm đảm (Basidiomycotina) - Ngành phụ nấm bất toàn (Deuteromycotina) [Nguyễn Lân Dũng, 2010] 1.2 Hình thái học sợi nấm Các nấm ăn thuộc ngành phụ nấm túi (Ascomycotina) và ngành phụ nấm đảm (Basidiomycotina) đều có thành tế bào cấu tạo chủ yếu bởi kitin-glucan. Đối với nấm đảm có tới 3 cấp sợi nấm: - Sợi nấm cấp một (sơ sinh): lúc đầu không có vách ngăn và có nhiều nhân, dần dần sẽ tạo vách ngăn và phân thành những tế bào đơn nhân trong sợi nấm. - Sợi nấm cấp hai (thứ sinh): tạo thành do sự phối trộn giữa hai sợi nấm cấp một.
Khi đó nguyên sinh chất giữa hai sợi nấm khác dấu sẽ trộn với nhau. Hai 5 nhân vẫn đứng riêng rẽ làm cho các tế bào có hai nhân, còn gọi là sợi nấm song nhân. - Sợi nấm cấp ba (tam sinh): do sợi nấm cấp hai phát triển thành. Các sợi nấm liên kết lại chặt chẽ với nhau và tạo thành hạch nấm.
Đối với nấm túi: sợi nấm song nhân chỉ sinh ra trước khi hình thành túi. Sự hình thành hạch nấm ở nấm túi là sự phối hợp giữa sợi nấm cấp một và sợi nấm song nhân [Nguyễn Lân Dũng, 2010].2 Các giai đoạn phát triển của sợi nấm 1.1 Giai đoạn sinh trưởng Giai đoạn này thường dài, nấm ở giai đoạn này chủ yếu là dạng sợi. Sợi nấm (hypha) mỏng manh và gồm 2 nhân, có nguồn gốc từ 2 bào tử khác nhau nảy mầm và phối hợp lại. Hệ sợi nấm (mycelium), còn gọi là hệ sợi dinh dưỡng (vegetative mycelium), len lỏi trong cơ chất để rút lấy thức ăn.
Thức ăn muốn vào tế bào sợi nấm phải thông qua màng tế bào. Khi khối sợi đạt đến mức độ nhất định về số lượng, gặp điều kiện thích hợp, sẽ bện kết lại tạo thành hạch nấm. Trong trường hợp bất lợi, sẽ hình thành các bào tử tiềm sinh hay hậu bào tử (chlamydospore) [Lê Duy Thắng, 2005], [Nguyễn Hữu Đống, 2005].2 Giai đoạn phát triển Giai đoạn này thường ngắn, lúc bấy giờ sợi nấm đan vào nhau, hình thành 1 dạng đặc biệt, gọi là hạch nấm hay tai nấm (fruit body). Hạch nấm thường có kích thước lớn và là cơ quan sinh sản của nấm.
Trên hạch nấm có 1 cấu trúc, nơi tập trung các đầu ngọn sợi nấm, đó là thụ tầng (hymenium). Chính ở đây 2 nhân của tế bào sẽ nhập thành 1. Sau đó sẽ chia thành 4 nhân con hình thành các bào tử hữu tính (sexual spore), đảm bào tử (basidiospore) hoặc nang bào tử (ascospore). Khi tai nấm trưởng thành, bào tử được phóng thích, chúng nảy mầm và chu trình lại tiếp tục [Lê Duy Thắng, 2005], [Nguyễn Hữu Đống, 2005].3 Các yếu tố ảnh hưởng lên sự sinh trưởng hệ sợi nấm Các yếu tố vật lý tác động lên sợi nấm khác với tác động lên sự hình thành hạch nấm.
Tác nhân vật lý ảnh hưởng trực tiếp lên sợi nấm với mức độ khác nhau: mức độ tác động thấp nhất, mức độ tác động tối ưu, mức độ tác động lớn nhất. Những yếu tố tác động trực tiếp lên sự sinh trưởng của sợi nấm là nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm và độ thông khí. Nhiệt độ: Ảnh hưởng trực tiếp đến các phản ứng sinh hóa bên trong tế bào, kích thích hoạt động các chất sinh trưởng, các enzym và chi phối toàn bộ các hoạt động sống của nấm. Mỗi loài nấm có nhu cầu nhiệt độ cho sinh trưởng và phát triển khác nhau.
Nhiệt độ nuôi ủ hệ sợi bao giờ cũng cao hơn so với khi nấm ra hạch nấm vài độ. Nhiệt độ cao hoặc thấp hơn nhiệt độ thích hợp sẽ làm cho hệ sợi nấm sinh trưởng chậm lại hoặc ngừng phát triển [Lê Duy Thắng, 2005], [Nguyễn Hữu Đống, 2005]. Ánh sáng: Cường độ ánh sáng mạnh kiềm chế sự sinh trưởng của sợi nấm, có trường hợp giết chết sợi nấm. Ánh sáng có thể phá vỡ một số vitamin và enzym cần thiết, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng bình thường của sợi nấm.
Phòng ủ nấm không nên quá tối sẽ gây trở ngại cho việc phát hiện bệnh và nhất là tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc, côn trùng phát triển. Trong giai đoạn nuôi hệ sợi tạo hạch nấm, ánh sáng có tác dụng kích thích hệ sợi nấm kết hạch (nụ nấm) Độ ẩm: Hầu hết các loài nấm cần độ ẩm cao. Một số loài nấm đảm cần độ ẩm thích hợp cho sự sinh trưởng tối ưu của sợi nấm (80-90%).