Modul III hiuili eâe ỊihầẪ'1 tử hệ tỉiốtUỊ điện. 165 Chương 7 VỘN HÀNH NHÀ MÁY ĐIỆN 7. Công tác thử nghiệm và kiểm tra máy phát điện Công tác kiểm tra máy phát được thực hiện sau khi sửa chữa và trước khi đưa máy phát vào vận hành và kiểm tra máy phát thường xuyên ở trạng thái làm việc. Công tác thử nghiệm Máy phát ở trạng thái dự phòng lâu, hoặc sau khi đã hoàn tất các công việc bảo dưỡng, sửa chữa, cần được tiến hành đo điện trở cách điện của mạch stator, mạch kích từ và cách điện của các đường ống dẫn dầu v.v Khi kiểm tra cách điện của cuộn stator với vỏ máy, cần phải đồng thời tiến hành đo điện trở cách điện thanh cái, máy biến áp khối (tự ngẫu), máy biến áp tự dùng bằng Mêgômét 2500 V, chú ý trong lúc đo phải tháo thanh nối đất của máy biến điện áp.
Trị số điện trở cách điện của mạch stator không được nhổ hơn 10,5 MQ ứng với nhiệt độ 70°C, các kết quả thu được cần được so sánh với giá trị đo lần trước để đánh giá chính xác tình trạng của các thiết bị. Điện trở cách điện của toàn bộ mạch kích từ được đo bằng Mêgômét 500 -ỉ- 1000 V, giá trị điện trở cách điện không được nhỏ hơn 0,5 MQ. Điện trở cách điện của các gối đỡ máy phát điện và máy kích tư khi đã lắp đầy đỉThệ thống ống dẫn dầu, được đo bằng Mêgômét 1000 V, giá trị điện trở cách điện này không được nhỏ hơn 1 MQ. Đo điện trở cách điện của các cuộn dây mạch stator và mạch rotor và so sánh với kết quả đo lần trước, nếu điện trở giảm thì cần tìm ra 166 nguyên nhân để khắc phục.
Đo điện trở mạch kích từ: điện trở cách điện của mạch kích từ không thấp hơn 0,5MQ đối với mạch kích từ bình thường và 10 kíì - đối với mạch kích từ ion; Khi sơ đồ khối đang ở trạng thái tách rời, trưởng kíp điện cùng với nhân viên trực điện chính tiến hành thử nghiệm các thiết bị sau: + Mạch điều khiển từ xa của máy cắt; + Mạch điều khiển từ xa của thiết bị tự động khử từ trường (TKT) và aptômát đầu cực của máy kích từ dự phòng và kích từ làm việc; + Liên động giữa TKT và áptomát đầu cực máy kích từ dự phòng và làm việc; + Hệ thống tín hiệu cảnh báo và tín hiệu sự cố; + Bộ chỉnh lưu của máy kích từ ; + Hệ thống làm mát cho bộ chỉnh lưu; - Sau khi đã tiến hành thử nghiêm xong, trực ban cần phải kiểm tra: + Máy cắt của khối ở trạng thái cắt; + Aptomát đầu cực của máy kích từ làm việc và dự phòng đã cắt; + Khoá điều khiển ở vị trí cắt và bóng đèn của khoá đã sáng đều. - Trưởng kíp điện ghi vào sổ nhật ký vận hành tất cả các kết quả thử nghiêm thiết bị của máy phát điện và báo cáo kết quả cho trưởng ca, đồng thời báo cáo cho quản đốc phân xưởng điện biết những hư hỏng trong quá trình thử nghiệm. - Sau khi đã kết thúc công việc xem xét và ghi kết quả vào sổ nhật ký vận hành, trưởng kíp điện báo cho trưởng ca về sự sẵn sàng của máy phát. Kiểm tra thứ tự pha của máỵ phát Sau khi máy phát được bảo dưỡng và sửa chữa xong cần phải tiến hành kiểm tra thứ tự pha của nó.
Công việc này được thực hiện với sự trợ giúp của thiết bị chỉ pha như thiết bị H-517 3-500 BA0-85 v. Ngoài ra có thể áp dụng sơ đồ chỉ thứ tự pha như hình 7.1 167 Khi mắc vào mạng, bóng đèn ở pha nào chậm hơn so với pha có điện dung thì sẽ sáng hơn; Ví dụ nếu đèn L2 sáng hơn Lj thì thứ tự của các pha tương ứng sẽ là A, B, c như hình 7. Sơ đồ bộ chỉ thứ tự pha 7. Kiểm tra trước khi khởi động máỵ phát a) Kiểm tra sau sửa chữa bảo dưỡng Sau khi đã sửa chữa bảo dưỡng, máy phát được kiểm tra với khối lượng sau: - Hoàn tất các công việc sửa chữa, lắp ráp máy phát điện, kết thúc công việc nối sơ đồ nhất thứ, nhị thứ của máy kích từ và các thiết bị kiểm tra, đo lường.
- Hoàn thành các biên bản về lắp máy kèm theo các phụ lục biên bản của quá trình lắp ráp, các biên bẳn thử nghiêm và tài liệu lắp ráp. - Kiểm tra độ kín của máy phát điện, cùng với hệ thống dầu, khí. - Kiểm tra sự hoàn chỉnh mọi yêu cầu về kỹ thuật an toàn và chống cháy nổ. - Kiểm tra độ làm việc tin cậy của tất cả các thiết bị kiểm nhiệt.
- Kiểm tra áp lực và độ tuần hoàn của dầu ở tất cả các gối đỡ và hệ thống dầu chèn trục rotor, nhiệt độ của dầu phải nằm trong giới hạn 24 -r 45°c. - Kiểm tra và xác định chắc chắn là mạch kích từ máy phát điện cũng như mọi thiết bị thao tác của máy phát phải ở vị trí cắt, hệ thống chổi than ở cổ góp rotor đã*được lắp đặt đúng. - Khi xem xét kiểm tra hệ thống tự động khử từ trường (TKT), cần đặc biệt xem xét kỹ tình trạng của khối tiếp điểm, cuộn đóng cuộn cắt, chỉ được đóng TKT vào để thử khi rotor máy phát điện đang đứng yên và áptomat 168 đầu vào của hệ thống kích từ làm việc và kích từ dự phòng đang ở vị trí cắt. - Kiểm tra sự tháo dỡ của các biển báo cho phép làm việc, nếu cần thiết thì phải treo các biển báo hiệu thích hợp khác.
- Cùng với việc kiểm tra máy phát điện, cần phải kiểm tra tất cả các máy biến áp điện lực. - Khi tiến hành xem xét hệ thống bảo vệ rơle cần phải kiểm tra tình trạng kẹp chì của các rơle, trạng thái của “con bài” khối thí nghiệm cũng như trạng thái của con nối bảo vệ. - Nếu như trong thời gian máy đang ngừng làm việc mà có tiêh hành các công việc sửa chữa trong mạch điện cao áp, thì cần phải kiểm tra độ làm việc chính xác và tin cậy của hệ thống hoà đồng bộ và xác định thứ tự pha của cả mạch nhất thứ và nhị thứ. Công việc kiểm tra này do nhân viên thí nghiệm điện tiến hành.
b) Kiểm tra mức độ sắn sàng của máỵ phát Việc kiểm tra mức độ sẵn sàng của máy phát bao gồm những công việc sau: - Quan sát tình trạng bên ngoài của các bộ phận, khi tiến hành xem xét vỏ máy phát điện cần chú ý các điều sau: + Tình trạng của bản thân máy phát điện; + Tình trạng của các bulông ở mặt bích hai phía và nắp các gối đỡ; + Trạng thái các máy bơm của hệ thống khí làm mát và hệ thống dầu chèn; + Trạng thái của mặt bích nối trên các đường ống khí, dầu và nước; - Kiểm tra các*vòng tiếp xúc và các thiết bị chổi than, cần chú ý các điều sau đây: + Các chổi than trong các hộp giữ phải có thể tự do di chuyển trong các hộp này; 169 + Trạng thái của chổi than không được mòn quá, phải cao hơn thành các hộp ít nhất là 3 đến 4 mm, không cho phép chổi vẹt không đều; + Các dây dẫn chổi than phải có tiếp xúc tốt, chắc chắn và không được chạm vào các vổ thiết bị của hệ thống chổi than, tất cả các thiết bị này đều sạch sẽ nguyên vẹn; - Kiểm tra mức độ sẵn sàng của hệ thống dầu; - Kiểm tra độ sẵn sàng của hệ thống làm mát; - Kiểm tra mức dầu, áp suất dầu và nhiệt độ của nó. Trước lúc khởi động cần phải kiểm tra: - Dầu vào gối đỡ và chèn trục phải chạy bình thường vào ống xả. - Đã chạy bơm làm mát khí, các bộ làm mát khí đã đầy nước, van đẩy đã mở. - Thực hiện các yêu cầu kỹ thuật về đảm bảo tự động tăng áp lực dầu chèn cao hơn lực khí H2 trong máy từ 0,5+ 0,7 kG/cm2 và áp lực dầu nén phải duy trì trong giới hạn 1,2 + 1,4 kG/cm2.
- Khởi động máy phát điện chỉ được tiến hành khi áp lực của H2 trong vỏ máy không thấp hơn 2,5 kG/cm2. Kiêm tra máỵ phát Ở trạng thái vận hành Các công việc kiểm tra khi máy phát đang vận hành do trưởng ca cùng thợ máy thực hiện không ít hơn một lần trong ngày. Khi máy phát đang vận hành cần thực hiện các quan sát sau: - Có hay không sự xuất hiện tia lửa ở cổ góp của máy kích từ không; - Độ mòn của hệ thống chổi; - Độ rung của các ổ bi; - Độ ồn của máỵTphát; - Nhiệt độ của ổ bi và hệ thống làm mát; - Áp suất của dầu. Khỏi động tô máy phát và khối Khởi động tổ máy phát là hệ thống thao tác theo trình tự được tiến hành bởi nhân viên hoặc thiết bị điều khiển tự động.
Khi khởi động tổ máy cần chú ý đến điều kiện gia nhiệt đồng đều của các tổ máy. Những thao tác quan trọng trong quá trình khởi động gồm: chẩn bị, khởi động lò hơi, v. Công tác chuẩn bị khởi động máỵ phát 1) Nguỵên tắc chung - Khởi động máy phát điện cũng như chạy thử tổng hợp phải tuân theo chương trình thử nghiệm đã được đại diện của nhà chế tạo thông qua, đồng ý. - Tất cả mọi công việc có liên quan đến khởi động và chạy thử tổng hợp chỉ được tiến hành dưới sự chỉ đạo, giám sát và hướng dẫn của người chỉ huy.
- Chỉ cho phép vận hành các thiết bị sau khi đã hoàn thành mọi công việc hiệu chỉnh và hoàn chỉnh mọi biên bẳn và phụ lục của các công việc này cũng như các công việc kiểm tra và thử nghiệm. - Trưởng kíp điện sau khi nhận lệnh của trưởng ca về việc chuẩn bị khởi động máy phát điện thì cần phải: + Kiểm tra theo sổ sách xem xét các phiếu công tác cấp cho việc sửa chữa máy phát điện và các thiết bị của máy đã được trả hết chưa. + Kiểm tra xem đã tháo hết dây ngắn mạch chưa (kiểm tra theo sổ nhật ký vận hành và trên thực tế ở chỗ đã đấu hết bảo vệ và nối đất). + Kiểm tra tất cả mọi ghi chép trong sổ nhật ký sửa chữa và nhật ký hệ thống mạch nhị thứ để xem xét đã tiến hành sửa chữa những gì, những công việc* này đã xong chưa và theo kết quả sửa chữa thì đã có đủ điều kiện để cho máy phát vào làm việc chưa.