CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÈ NHẬN DẠNG MẪU 1.1 Giới thiệu Nhận dạng mẫu, thực hiện hành động dựa trên nhãn hay loại của mẫu từ dữ liệu đầu vào, đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Ví dụ như việc đọc được các chữ viết tay, hiểu được lời nói, hay nhận ra một khuôn mặt, nhận dạng một loài hoa. được thực hiện bởi các mô hình học máy đã và đang được đầu tư nghiên cứu rất nhiều và mang lại những hiệu quả rất đáng khích lệ.
Việc nhận dạng được thực hiện dựa trên khả năng “học”. Khả năng này cho phép các hệ thống nhận dạng có thể được huấn luyện dựa trên tập dữ liệu đe cho kết quả nhận dạng càng chính xác hơn. Thông thường, tập dữ liệu được chia làm hai tập con bao gồm tập dữ liệu dùng cho huấn luyện và tập dữ liệu dùng trong kiểm thử để đánh giá mô hình như mô tả ở Hình 1. Phân chia tập dữ liệu thành tập huấn luyện và tập kiểm thử.
Tập dữ liệu huấn luyện bao gồm dữ liệu được sử dụng trong huấn luyện hay xây dựng mô hình. Các giải thuật huấn luyện được sử dụng để khớp giá trị đầu ra mồ hình với giá trị đầu ra kỳ vọng tương ứng với các dữ liệu đầu vào. Sau khi được huấn luyện, mô hình có thể được sử dụng để tạo ra kết quả đầu ra tương ứng với dữ liệu đầu vào mới. Tập dữ liệu kiểm thử được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng của mô hình đối với các tập dữ liệu mới sau khi đã được huấn luyện.
Ngoài ra, chúng ta có thể sử dụng tập dữ liệu kiểm chứng (validation set) để kiểm chứng và lựa chọn mô hình (bao gồm các thông số) phù hợp từ các ứng viên được huấn luyện từ tập huấn luyện. Input Output Hình 1. Mô hình tồng quát của hệ thống nhận dạng 9 Một cách đơn giản, quá trình nhận dạng thông thường gồm các bước chính: (1) tiền xử lý; (2) trích xuất và/hoặc lựa chọn đặc trưng; và (3) nhận dạng, như được trình bày trong Hình 1. Mỗi bước có thể được thực hiện bởi một số mô hình riêng, các mô hình có thể tĩnh hoặc được đặc trưng bởi các trọng số.
Ví dụ như trong nhận dạng khối u với đầu vào là ảnh y khoa, bước đầu tiên là tiền xử lý ảnh để lọc nhiễu và cân bằng mức xám. Sang bước thứ hai là trích xuất các đặc trưng liên quan đến khối u chẳng hạn như đặc điểm phân phối mức xám, độ mịn của biên, hoặc hình dạng của nó. Các đặc trưng này được đưa vào mô hình nhận dạng để phân loại khối u. Các trọng số của từng mô hình thành phần có thể được xác định thông qua quá trình huấn luyện độc lập hoặc kết hợp.
Trong các mô hình dựa trên mạng học sâu (deep learning), các thông số của bước trích xuất đặc trưng và bước nhận dạng có thể được cập nhật đồng thời. Các giải thuật huấn luyện có thể được chia thành hai nhóm là: (1) có giám sát (supervised learning) và (2) không có giám sát (unsupervised learning). Đối với các giải thuật huấn luyện có giám sát, mỗi đầu vào sẽ có đầu ra kỳ vọng tương ứng của nó đóng vai trò như một “giáo viên”. Quá trình huấn luyện là tìm tập các thông số của mô hình nhằm tối thiểu sự khác biệt giữa giá trị đầu ra của mô hình và giá trị kỳ vọng này.
Đối với học không giám sát thì chúng ta chỉ biết giá trị đặc trưng đầu vào, không có giá trị đầu ra kỳ vọng, không có “giáo viên” một cách tường minh. Quyển sách này tập trung chính vào tiếp cận học có giám sát. Đối với bài toán phân lớp, cho một tập dữ liệu thu được thông qua quá trình khảo sát bao gồm tập các mẫu được biểu diễn bởi các vector X, chúng ta kỳ vọng gán nhãn cho mỗi mẫu từ một tập c nhãn, Cời, /=1,2,. Luật quyết định sẽ phân chia không gian tương ứng của đầu vào thành c vùng, /21, /=1, 2,.
Nếu một vector khảo sát nằm trong vùng /21 thì nó được giả sử gán nhãn Mỗi vùng phân lớp /21 có thể bao gồm nhiều vùng nhỏ không liền kề nhau. Các biên giữa các vùng Qi được gọi là biên quyết định hay biên phân lớp. Thông thường, các mẫu càng gần với các biên quyết định thì khả năng nhận dạng sai càng cao. Các biên quyết định có thể ở dạng tuyến tính hoặc phi tuyến.
Đối với bài toán hồi qui, chúng ta cần tìm hàm xấp xỉ cho mối quan hệ giữa biến độc lập X tương ứng với các dữ liệu đầu vào đo được và biến phụ thuộc y tương ứng với đáp ứng của nó, y ~7(x). Phần còn lại của chương này trình bày hai phương pháp đơn giản phổ biến truyền thống trong nhận dạng bao gồm: (1) mô hình được xây 10 dựng trực tiếp từ các đặc trưng đầu vào, cây quyết định, nó hình thành các đoạn biên quyết định tuyến tính song song với các trục tọa độ tương ứng với từng đặc trưng; và (2) mô hình được xây dựng dựa vào các điểm dữ liệu hỗ trợ, máy hỗ trợ vector (support vector machine), nó dựa vào cực đại khoảng cách với các vector hỗ trợ. Cây quyết định 1.1 Giói thiệu Cây quyết định là một trong những tiếp cận đơn giản trong bài toán nhận dạng dựa trên đồ thị dạng cây, trong đó các nút tương ứng với đặc trưng của tập dữ liệu và câu hỏi được đặt ra, các cạnh biểu diễn các kết quả trả lời tương ứng với câu hỏi đó. Nút đầu tiên được gọi là nút gốc của cây, các nút lá biểu diễn giá trị ngõ ra hay nhãn phân lớp.
Việc phân lóp dựa trên cây quyêt định khá tự nhiên và trực quan, kêt quả gán nhãn có thể dựa vào dãy các câu hỏi. Câu hỏi sau phụ thuộc vào kết quả trả lời của câu hỏi hiện tại. Phân lớp dựa vào cây quyết định. Quá trình xử lý từ nút gốc đến nút lá Quá trình phân lớp cho một mẫu được thực hiện bát đầu tại nút ệốc, ở đó sẽ hỏi giá trị tương ứng với đặc trưng của nó, các cạnh liên kêt từ nút gốc sẽ tương ứng với các giá trị khác nhau của đặc trưng.
Tùy theo kết quả trả lời mà cạnh tương ứng sẽ được chọn để đi đến nút con. Tại nút con quá trình được thực hiện tương tự như trên, và nút con được xem là nút gốc của cây con tiếp theo. Quá trình sẽ được tiếp tục cho đến 11 nút lá, ở đó không còn câu hỏi kiểm tra giá trị. Nó chính là nhãn sẽ được gán cho mẫu cần nhận dạng.3 minh họa một ví dụ cho cây quyết định đơn giản cho bài toán phân lóp với tập các đặc trưng {Màu, Kích thước, Hình dáng, Có que}.
Việc phân lớp cho một mẫu đầu vào được thực hiện dựa trên đường đi được xác định bởi các giá trị tương ứng với các đặc trưng. Giả sử một mẫu X có các giá trị đặc trưng là \={Màu-Vàng, Kích thước=Nhỏ, Hình dáng=Tròn, Có que=Không}, mẫu này được xác định là quả Chanh (vỏ vàng) bởi vì nó có màu vàng, hình tròn, và kích thước nhỏ.1 Ví dụ dữ liệu cho cây quyết định đánh giá kết quả học tập Đọc sách ờ Lên Lab Nghiện ID Tuổi thư viện Kết quả (giờ/tuần) game (giờ/tuần) 1 20 20 10 Không Tốt Trung 2 19 15 15 Không Bình 3 20 2 5 Có Yếu 4 25 25 12 Không Tốt 5 21 30 12 Có Tốt Trung 6 22 10 5 Có Bình 7 21 5 10 Có Yếu Trung 8 23 5 18 Không Bình Trung 9 19 10 10 Không Bình Trung 10 23 5 10 Có Bình Một ví dụ khác về cây quyết định được mô tả ở Hình 1.4 tương ứng với tập dữ liệu ở Bảng 1.1 tập dữ liệu bao gồm 10 mẫu dữ liệu tương ứng với 10 sinh viên. Các nút lá tương ứng các nhãn phân loại (đặc trưng Kết quả), các nút còn lại tương ứng với các đặc trưng khác còn lại. Các nhánh của cây từ một nút bất kỳ tương đương một phép so sánh (có thê là so sánh băng, so sánh khác, lớn hơn, hoặc nhỏ hơn) nhưng kết quả các phép so sánh này bắt buộc phải thể hiện một giá trị logic (Đúng 12 hoặc Sai) dựa trên một giá trị nào đó của thuộc tính của nút.
Lưu ý cây quyết định trên không có sự tham gia của đặc trưng “Giờ lên Lab” trong thành phần cây, các đặc trưng như vậy được gọi chung là các đặc trưng dư thừa, bởi các đặc trưng này không ảnh hưởng đến quá trình xây dựng mô hình của cây. Các đặc trưng tham gia vào quá trình phân lớp thông thường có các giá trị thuộc kiểu sắp xếp hay kiểu số (ordered or numeric values) hoặc kiểu không sắp xếp hoặc kiểu phân lớp (unordered or category values). Ví dụ kiểu dữ liệu tuổi biểu diễn bằng số có thứ tự (sắp xếp), kiểu dữ liệu “Nghiện game” là kiểu dữ liệu không sắp xếp (không có thứ tự). Cây quyết định tương ứng với tập dữ liệu trong Bảng 1.
Việc xây dựng cây quyết định được tiến hành một cách đệ (ỊUĨ, lần lượt từ nút gốc xuống tới các nút lá. Tại mỗi nút hiện hành, nêu điêu kiện dừng được thỏa thì giải thuật sẽ tạo nút lá. Nút này được gán nhãn lớp tùy điều kiện dừng được thoả. Ngược lại, điểm chia tốt nhất được chọn dựa trên một tiêu chí cho trước, phân chia tập dữ liệu hiện hành được thực hiện theo điều kiện chia này.
Chú ý, dữ liệu hiện hành không nhất thiết là tập dữ liệu đầy đủ ban đầu, có thể là tập dữ liệu đã được phân chia theo điều kiện chia của nút liền trước đó (nút cha). Sau bước phân chia trên, thuật toán sẽ lặp qua tất cả các tập con (đã được chia) và tiến hành gọi đệ qui như bước đầu tiên với dữ liệu chính là các tập con này. Quá trình tạo cây quyết định được tóm lược ở giải thuật sau: 13 Giải thuật 7. Giải thuật tông quát tạo cây quyêt định Đầu vào: Tập dữ liệu huấn luyện, tập các đặc trưng, tập nhãn Đầu ra: Cây quyết định Giải thuật: TreeCreate (Tập dữ liệu Z), tập các đặc trưng F, tập nhãn£) 1.
If điều_kiện_dừng (P,F) thỏa 2. Tìm điểm chia tốt nhất (Đ, F) 8. Đặt 5= {Các tập con được phân chia từ D} 9. Loop qua từng tập Ds eS 10.
Đặt F=F\{Các đặc trưng tương ứng điểm chia được chọn} 11. Trả về Nút gốc. Đây là một giải thuật đệ qui. Tại hàm chính, TreeCreateO có ba tham số đầu vào là tập dữ liệu D, danh sách các đặc trưng của 2) và tập nhãn £.