Đặt vấn đề Lâm sản ngoài gỗ là nguồn tài nguyên có vai trò quan trọng trong đời sống KT-XH, đặc biệt đối với các cộng đồng có đời sống gắn liền với rừng. Ở các nước nghèo, đang phát triển đời sống vẫn còn phụ thuộc vào những sản phẩm của rừng để tiêu dùng và là nguồn thu nhập không thể thiếu. Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp cùng sức ép của sự gia tăng dân số và sự mở rộng quy mô hội nhập kinh tế đã làm tăng nhu cầu sử dụng lâm sản ngoài gỗ. Tình trạng khai thác không hợp lý, khai thác tận thu, tận diệt nguồn lâm sản ngoài gỗ đã có tác động xấu đối với sự đa dạng sinh học và đời sống cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng.
Trong nhóm những cây lâm sản ngoài gỗ, phân họ tre trúc đang được người dân đặc biệt quan tâm. Cây tre (với nhiều loại khác nhau: trúc, mai, vầu, nứạ.) có ở nhiều nước trên thế giới. Nhưng có lẽ khu vực Đông Nam Á nhiệt đới gió mùa mới chính là quê hương, xứ sở của tre và các sản phẩm văn hoá từ tre. Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm.
Thế nhưng những năm gần đây, có một thực tế đáng buồn là loại cây đa dạng, thiết thực trong mọi mặt đời sống này đã bị coi nhẹ, bị chặt phá, bị thoái hoá. bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Mai cây có tên khoa học Dendrocalamus yunnanicus Hsueh & D.Li thuộc phân họ tre trúc (Bambusoideae), là một loại cây có nhiều công dụng trong đời sống kinh tế - xã hội như: Làm chất đốt (rễ, thân, cành, lá), thực h 2 phẩm (măng), vật liệu xây dựng (thân) và nguyên liệu cho công nghiệp (thân, măng),… Do việc tăng lên về dân số và sự phát triển nhanh chóng của nền công nghiệp nguồn Mai cây tự nhiên đã và đang bị khai thác một cách quá mức để đáp ứng được các nhu cầu trước mắt mà không chú trọng đến việc gây trồng đảm bảo lợi ích cho các thế hệ mai sau. Để có cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển loài Mai cây cần thiết phải có các kỹ thuật nhân giống và gây trồng hướng tới sản xuất hàng hóa loài cây này phục vụ nhu cầu sử dụng lâu dài, giảm áp lực của cộng đồng lên tài nguyên thiên nhiên rừng.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài : Nhân giống Mai cây (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh & D.Li) bằng phương pháp giâm hom cành tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Mục đích nghiên cứu. Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính của Mai cây bằng phương pháp giâm hom cành dưới sự ảnh hưởng của thuốc kích thích sinh trưởng IBA, IAA, NAA trong điều kiện vườn ươm tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được loại thuốc, nồng độ thuốc kích thích ra rễ thích hợp nhất cho nhân giống bằng phương pháp giâm hom cành trong sản xuất giống Mai cây.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan. - Giúp sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. h 3 - Nắm được phương pháp nghiên cứu.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Có ý nghĩa trong việc duy trì, củng cố giống tốt. - Có được kỹ năng nhân giống cây bằng phương pháp giâm hom cành. - Nâng cao được tỷ lệ cây xuất vườn, tạo tiền đề cho việc cung cấp số lượng lớn giống cây đảm bảo chất lượng cho sản xuất. - Áp dụng kết quả nghiên cứu trong nhân giống Mai cây bằng hom cành.
h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Giâm hom là phương pháp nhân giống cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng. Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi tiến hành giâm hom, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì rễ được hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài. Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính.
Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợp giao tử đực và giao tử cái để tạo thành hợp tử lưỡng bội. Hợp tử phát triển thành cá thể mới. Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, nó bao gồm sự kết hợp của vô tính và các dạng sinh sản dinh dưỡng. Trong các biện pháp sinh sản vô tính, giâm hom là hình thức phổ biến nhất và là một trong những công cụ có hiệu quả cho việc lưu giữ, bảo vệ và duy trì giống cây rừng.
Bởi chúng có các đặc điểm sau: Giâm hom có thể dùng hom thân, hom cành, hom rễ toàn những nguyên liệu sẵn có, dễ làm, dễ thao tác. Nhân giống bằng hom cho hệ số nhân giống lớn, tương đối rẻ tiền, nên được dùng phổ biến cho trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 1998) [5]. Cơ sở tế bào học Theo viện sĩ Maximop, mỗi bộ phận của cây, ngay đến mỗi tế bào, đều có tính độc lập về mặt sinh lí rất cao. Chúng có khả năng khôi phục lại các cơ quan, bộ phận không đầy đủ và trở thành một cá thể mới hoàn chỉnh.
Trong cơ thể thực vật, nước và các chất khoáng hoà tan được vận chuyển từ rễ lên lá theo mạch gỗ, còn các sản phẩm hữu cơ sản xuất ở lá được chuyển xuống gốc h 5 ( rễ, củ, …) theo mạch rây. Khi ta cắt đứt con đường vận chuyển theo mạch rây, các sản phẩm hữu cơ sẽ tập trung ở các tế bào vỏ của phần bị cắt. Các chất hữu cơ này cùng với chất điều hoà sinh trưởng Axin nội sinh (được tổng hợp ở ngọn cây chuyển xuống) sẽ kích thích sự hoạt động của tượng tầng và hình thành mô sẹo, rồi sau đó hình thành rễ từ mô sẹo ở chỗ bị cắt, khi gặp điều kiện thuận lợi. Quá trình hình thành rễ bất định này có thể chia làm ba giai đoạn: - Giai đoạn 1: Tái phân chia tượng tầng.
- Giai đoạn 2: Xuất hiện mầm rễ. - Giai đoạn 3: Sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ đâm qua vỏ ra ngoài (Hoàng Minh Tấn và CS, 2006) [12]. Năm 1902, nhà sinh lý thực vật người Đức Haberladt, đã tiến hành nuôi cấy mô tế bào thực vật để chứng minh tế bào là toàn năng. Có nghĩa bất cứ tế bào nào hoặc mô tế bào nào thuộc cơ quan như rễ, thân, lá đều chứa hệ gen giống như tất cả các tế bào sinh dưỡng khác trong cơ thể, đều có khả năng sinh sản vô tính để tạo thành cây hoàn chỉnh (Nguyễn Đức Thành, 2000) [13].
Cơ sở di truyền học Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hóa các cơ quan. Đặc trưng của hình thức phân bào trên là số lượng NST của tế bào khởi đầu và tế bào mới được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay nguyên phân. Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào mà kết quả từ một tế bào ban đầu cho ra hai tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu. Nhờ có quá trình nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều, chính xác cho các tế bào con.
Ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân, NST tự tái bản trước tiên theo chiều dọc rồi tách theo chiều ngang, sau đó qua các kỳ tiếp theo NST phân chia về h 6 các tế bào con đảm bảo cho các tế bào con đều có bộ NST như nhau và giống tế bào ban đầu. Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể tăng lên, sau đó nhờ có quá trình phân hóa các cơ quan trong quá trình phát triển cá thể mà tạo thành một cây con hoàn chỉnh. Đây là một quá trình đảm bảo cho cây con duy trì tính trạng của cây mẹ (Nguyễn Như Hiền, 2005) [2]. Sự hình thành rễ bất định Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất định của một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp để tạo thành cơ thể mới.
Rễ bất định là những rễ được hình thành về sau này của các cơ quan sinh dưỡng như cành, thân lá. Rễ bất định có thể được hình thành ngay trên cây nguyên vẹn (cây đa, cây si.), nhưng khi cắt cành khỏi cơ thể mẹ là điều kiện kích thích sự hình thành rễ và người ta vận dụng để nhân bản vô tính. Có hai loại rễ bất định gồm: rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh. - Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ.
- Rễ mới sinh: Là rễ được hình thành sau khi cắt hom và giâm hom. Khi đó các tế bào chỗ bị cắt, bị phá hủy, bị tổn thương và các tế bào dẫn chuyền đã chết của mô gỗ được mở ra, dẫn đến dòng nhựa được dẫn từ phần lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành nên mô sẹo, đây là cơ sở hình thành rễ bất định. Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm ba giai đoạn: - Giai đoạn 1: Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt. - Giai đoạn 2: Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo.
- Giai đoạn 3: Các tế bào vùng tượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ (Hoàng Minh Tấn và CS,2006) [12]. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom a) Nhân tố ngoại sinh *Thời vụ giâm hom: Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm. Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy cành và thời vụ giâm hom. Một số loài có thể giâm hom quanh năm song cũng có những cây có mùa vụ rõ rệt.