Chương 1. Khái quát chung về điều khiển quá trình 1.1 Khái niệm c ơ bản Ọuá trình trong sản xuất công nghiệp được hiểu là sự biến đổi lý hóa trong dây chuyền thiết bị công nghệ, của dòng nguyên vật liệu đầu vào để tạo ra dòng sản phẩm đầu ra. Điều khiển quá trình là điều khiển biến đổi lý hóa thông qua các thông số công nghệ sao cho đảm bảo sản xuất ổn định, chất lượng sản phẩm đầu ra đáp ứng yêu cầu với điều kiện an toàn cho người vận hành và thiết bị công nghệ, đặc biệt là phải đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu an toàn về môi trưòĩig. Điều khiển quá trình luôn được nghiên cứu phát triển hưóng tới mục tiêu hiệu suất cao, chi phí sản xuất thấp để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Điều khiển quá trình có quan hệ chặt chẽ không tách rời với công nghệ và thiết bị công nghệ. Mặc dù nó chiếm tỷ trọng 2 h- 5% tổng vốn đầu tư cho dây chuyền sản xuất, nhưng lại quyết định toàn bộ việc vận hành ổn định và chất lượng sản phẩm. Vì vậy nó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.2 P h â n loại đ i ề u k h i ể n q u á t rì n h Do tính phổ biến và đa dạng cùa điều khiển quá trình (ĐKQT) nên khó có thể phân loại một cách rõ ràng điều khiển quá trinh. Tuy nhiên đứng trên các quan điểm nghiên cứu về điều khiển và ứng dụng ta có thể phân loại ĐK ỌT như sau: Phân loại theo công nghệ sản xuất Phân loại theo tính chất sản xuất Phân loại theo quy mô và tính chất điều khiển.1 Phân loại theo côn g nghệ sản xuất ĐK.ỌT là phần không tách với công nghệ, vì vậy mồi một công nghệ sản xuất đều có sự nghiên cứu chuyên sâu riêng về ĐK.
Mặc dù tổ chức phần cứng cùa các hệ điều khiển đều có thê giống nhau, nhưng phần mềm điều khiển lại có sự khác biệt. Cho nên mỗi công nehệ sản xuất có loại hình hệ điều khiển khác nhau. Ta có thể phân các hệ ĐK ỌT theo lĩnh vực sau: Quá trình nhiệt: lò hơi nhiệt điện, nhiệt lạnh, trao đổi nhiệt, sấy, nung. Ọuá trình hóa học: lọc hóa dầu, sản xuất hóa chất CO' bản, hóa dược.
san xuất giấy, khai khoáng,. Vật liệu xây dựng: xi măng, gốm sứ, thủy tinh, gạ ch,. Chế biến thực phẩm: rượu bia, nưóc uống, đường sữa, chế biến nông hải san.2 Phân loại theo tính chất sản xuất Theo tính chât sản xuât có thê phân loại ra làm hai loại: Sản xuất liên tục và sàn xuất theo San xuât liên tục : Các quá trình sản xuất liên tục với đầu vào là các nguyên liệu và đằu ra là sán phâm. Đặc điêm quá trình sản xuất loại này là công nuhệ có độ phức tạp cao.
số lượng các 10 Khái quát chung vể diếu khiến quá trinh thiết bị và tín hiệu phục vụ điều khiển lớn. Ọuá trình khới động hay dừn° được thực hiện cho cá nhà máy. Nêu một khâu nào đó dừng sẽ dân đên phải dừng cả nhà máv hoặc khi một khâu náo đó mất ổn định cũng dẫn đến toàn bộ quá trình mất ổn định, sản phẩm ra không đảm bao chất lưọng. Các quá trình sản xuất tiêu biểu có thể kể ra như quá trình sản xuất trong nhà má> nhiệt điện, lọc hóa dâu, lò nung clinker v.
Các nhà máy loại này chỉ dừng khi bị sự cố hoặc dừng theo kê hoạch sản xuât đê bảo trì, bảo dường. Ngưòi ta thường tính cho sự hoạt động là so eiờ vận hành định mức trong năm 4000h, 6000h hoặc 7000h/năm. Đặc điểm cùa hệ điều khiến loại hình này là số lượng tham số đo và điều khiển rất lớn. các tham số này lại có quan hệ chặt chẽ.
tác động đa chiều, biến đổi phức tạp. Hệ điều khiển có nhiều mạch vòng, đa thông số nhiêu đâu vào ra (I/O), tham số biến đổi và phi tuyến. Tuy nhiên do công suất hoạt động của các nhà máv ít thay đổi, do vậy các đại lượng hóa lý và thông số điều khiển biến đồi trong dải hoạt độn 2 ở xung quanh điểm làm việc cân bằng, nên có thể áp đụng điều khiển tuyến tính hóa xung quanh điểm làm việc và điều khiển phân ly cho các đối tượng đa biến. Tùy theo tình trạng thiết bị cỏna nghệ nguyên vật liệu đầu vào, người ta sử dụng thuật điều khiển tối ưu hóa với mục đích sản xuất có lợi nhuận cao, sản lượng lớn.
Sàn xuất theo mẻ: Thông thường quy mô sản xuất theo mẻ là dây chuyền thuộc phân xưởng có nhiều công đoạn như: xưởng bột giấy, phân xưởng nấu bia, gia nhiệt. Tính chất sán xuất theo chu kỳ: nạp liệu, khởi động, làm việc ổn định, dừng tháo liệu, vận chuyển thành phẩm bán thành phẩm từ khâu này sang khâu khác của dây chuyền. Mỗi chu kỳ làm việc được tính số giờ/lmẻ. Hệ điều khiển theo mẻ có quy mô không lớn, nhưng điều khiển hệ rất khó khăn.
Iượno đặt của hệ điều khiển biến đồi từ 0% + 100% sau đó lại giảm từ 100% về 0%. Đây là hệ điều khiển phi tuyến và có nhiều thông số biến đổi trong dải rộng. Đối với hệ điều khiển quá trình thườno dùng hệ điều khiển thích nghi, phi tuyến. Ngoài ra để đàm bảo năng suất, sán lưọng và chất lượng sản phẩm cần có hệ điều khiển trình tự.
logic, an toàn quản lý sản xuất với đặc thù riêns.3 Phân loại Đ K Q T theo quan điểm điều khiển Hệ điều khiển quá trình trone những năm gần đây phát triển vưọt bậc. đó là do ba yếu tố: Sự phát triển công nghệ và thiết bị công nghệ thúc đâv Đ K Ọ T cần phải đáp ứng; Sự phát triển lý thuyết điều khiên và tự động hóa dần dần được áp dụng vào thực tế sàn xuât; Sự phát triển cùa công nghiệp điện tử, công cụ phần mềm đã san xuất ra các bô điều khiển và các hệ điều khiển, đáp ứng đầy đù yêu cầu công nghệ đặt ra.ỌT theo quan điểm điều khiển có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trono phạm vi người ứng dụng ta có thể phân loại theo hai hướng: quy mô điều khiển và chức nãnơ điều khiên, v ề quy mô điều khiên có thê chia ra ba thể loại: Quy mỏ đơn lẻ-. ĐKỌT chỉ là một vấn đề phụ đon lẻ trong dây chuyền sản xuất.
Đe đáp ứn 2 cho ứng dụng này ta có các bộ điều khiên số cho một đại lượng cụ the như bộ điều khiến nhiẹt độ (phổ biến nhất) bộ diều khiên mức, áp suất, lưu lượng, nồng độ pH. Các bộ điều khiên này có tù một đến hai mạch vòng. Ọity mô dày chuyền hoặc nhà máy có nhiều công đoạn tươn2 đổi độc lập với nhau: Với qu> mô hộ điêu khiên có vài nghìn đèn vạn điẽm cân quàn lý và vài chục các mạch vònẹ như các nhà máy giây, đường sữa, xi măng v. Người ta sư dụng các hệ điều khiển quá trình (PCS) Mòi tliièt bị điêu khiên quan lý tói 2000 điêm vào/ra.
có thẻ thiết lập vài chục các mạch vori'. Khái quát chung về điều khiến quá trình 11 Quy mô hệ thống ỉớn với nhà máy có vài chục vạn điếm đo và điều khiển, vài trăm mạch vòng như các nhà máy nhiệt điện, lọc hóa dầu, v. Tính chất của đối tượng điều khiển trong trường hợp này là các hệ nhiều đầu vào - nhiều đầu ra (hệ MIMO), chiến lược điều khiển áp dụng cho các đối tượng điều khiển này phải là chiến lược điều khiến đa biến (multi-variable control). Trong trường hợp này ta phải sử dụng các hệ điều khiển phân tán (DCS).
Tùy theo tính chât và yêu cầu của mồi đối tượng cụ thể có thể phải sử dụng tới thiết bị điều khiển lớn với khả năng quản lý tới 10.000 điểm vào/ra và vài trăm mạch vòng điều khiển như thiết bị điều khiển trong hệ điều khiển Centum cs 3000 (YOKOGAWA), Advance Control AC400 ( A B B ) ,. Với hệ PCS và DCS có cấu trúc hệ thống trình bày trên Hình 1-1. Tỗ c h ứ c h ệ th ố n g ĐKQT (DCS và PCS) Chức năng điều khiển: Neu phân theo chức năng điều khiển ta có ba chức năng: Giám sát vận hành, điều khiển tối ưu hóa,điều khiển CO' sở. Trên Hì nh 1-2 trinh bày phân cấp chức năng điều khiển: Cấp 1 là cấp điều khiển CO' sở, gồm hai loại ứng dụng điều khiển là: 1) điểu khiến - đ iề u c h in h (regulation c o n tro l) thực hiện điều khiển tự động các đại lưọng lý hóa thông qua các mạch vòng điều khiển (control loop) hoặc điều khiến đa biến (multi-variable control): 2) Điều khiển logic thực hiện điều khiển an toàn, khởi động, vận hành, bào vệ; Câp 2: Điều khiển tối ưu hóa thời gian thực nhằm xác định điểm vận hành hiệu quả cùa dâv chuyền.
Cấp3: Điều kliiển giám sát vận hành. 12 Khái quát chung về điếu khiến quá trinh Cấp 3: Điều khiển giám sát vận hành Cấp 2: Điều khiển tối ưu hóa thời gian thực Cấp1:Điều khiển c ơ s ờ Điều khiển logic Điều khiẻn - điều chỉnh Điều khiển logic Điều khiển logic Điều khiển Điều khiển đa biến Điều khiẻn các an toàn bảo vệ logic khởi mạch vòng động,vận hành Hình 1-2. Phân cấp c hức năng hệ điều khiển quá trinh. Điều khiến giám sát vận hành'.
Hiển thị trạng thái toàn bộ nhà máy, hiển thị các biến quá trình dưới dạng đồ thị, lập các giao diện cảnh báo, lập các báo cáo và giao diện vận hành thao tác hệ thống.Tính toán thống kê nhằm nâng cao chất lượng. Cấp điều khiển tối ira hóa\ Từ số liệu thống kê các thông số vận hành, đánh giá hệ thôns theo một số chi tiêu, từ đó tính toán tìm được điểm vận hành tối ưu, sao cho đạt lợi nhuận cao nhất. Kết quả tính toán đưa ra giá trị lượng đặt xuống cấp điều khiển cơ sở. Điều khiển tối ưu hóa đòi hỏi ngưòi vận hành có kinh nghiệm và không phải hãng nào cũng đưa ra cấp điều khiên này và ngưọc lại không phải nhà máy nào cũng chấp nhận vận hành điều khiển tối ưu hóa.
Tuy nhiên do giá thành nguyên, nhiên liệu ngàv càng cao vì vậy xu thế sử dụng điều khiên tối ưu hóa ngày càng nhiều. Cấp điều khiên cơ sở gồm hai loại ứng dụng điêu khiên: Điều khiển - điều chinh và điều khiến logic. Úng dụng điểu khiên - điểu chinh thực hiện điều khiên tự động các đại lượna lý. hóa có thể đa mạch vòng đon biến hay điều khiên đa biến.
Trong lóp điều khiển đa mạch vòng thường sử dụng điều khiển phàn hồi với bộ điều khiển PID.