Chương I1 của khóa luận tập trung tìm hiểu, phân tích khái niệm, đặc điểm cơ bản của cầm cé tài sản; sự hình thành và phát triển của cầm cé tài sản trong pháp luật Việt Nam qua các thời kì để thấy chế định cầm cố ngày càng được hoàn thiện và kiện toàn hơn, những quy định trong Bộ luật dân sự sau khi kế thừa những tính hoa của Bộ luật dân sự trước và thay đôi một số điểm để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; và một số quy định pháp luật thê giới về câm cô tài sản. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VE CAM CO TAI SAN TRONG BỘ LUẬT DAN SỰ NĂM 2015 VA THUC TRANG AP DUNG 2. Thực trạng pháp luật quy định về cầm cố tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2015 2. Thực trạng pháp luật về tài sản cam cô Theo quy định tại Điều 309 BLDS năm 2015: “Cẩm cố tài sản là việc một bên (sau đây là bên cam cô) giao tài sản thuộc quyên sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là tài sản cam cố) dé bảo đảm thực hiện nghĩa vu’.
Điều luật đã quy định rõ đối tượng của cầm cé là tài sản. Tài sản dùng dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 8 Nghị định 21/2021/ND — CP bao gồm: “1. Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, trừ trường hợp Bộ luật Dan sự, luật khác liên quan cam mua bản, cấm chuyển nhượng hoặc cấm chuyển giao khác về quyên sở hữu tại thời điểm xác lập hợp đông bao dam, biện pháp bảo dam; 2. Tài san bán trong hop dong mua ban tài sản có bảo lưu quyên sở hữu; 3.
Tài sản thuộc đối tượng của nghĩa vụ trong hợp dong song vụ bị vi phạm doi với biện pháp cam giữ; 4. Tài sản thuộc sở hữu toàn dan trong trường hợp pháp luật liên quan co quy định. ” Tại Điều 105 BLDS năm 2015 quy định: “Tdi sản là vật, tiễn, giấy tờ có gid và quyên tài sản. Tài sản bao gồm động sản và bat động sản”.
(1) Đối với tài sản là động sản, bên nhận cầm cô sẽ có quyền chiếm hữu tài sản nhưng sẽ không có quyền sử dụng, định đoạt. Nếu muốn được sử dụng tài sản cần phải có sự thỏa thuận, thương lượng của các bên. Vi dụ như cam có những động sản xe 6 tô, xe máy,. đây là những động sản khi được sử dụng sẽ tạo giá tri, tuy nhiên khi cầm cô mà không được sử dụng sẽ dẫn đến lãng phí khi tài sản không thể tạo ra giá trị mặc dù hao mòn theo thời gian sẽ 14 làm giảm giá tri của tài sản.
Đây chính là một nhược điểm của cầm cố khiến cho thông thường bên cầm cô không muốn sử dụng biện pháp đảm bảo nay mà họ thường hướng tới biện pháp thế chấp, chỉ cần giao giấy tờ pháp lý và vẫn được chiếm hữu sử dụng tài sản. (2) Đối với tài sản là bất động sản, BLDS năm 2015 không quy định đối tượng của cầm cé phải là động sản, do vậy có thé hiểu đối tượng của cầm cố có thé là động sản hoặc bất động sản. Theo quy định tại Điều 313 BLDS năm 2015 về nghĩa vụ của bên nhận cầm cố là không được sử dung tài sản cầm có, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Xét về nguyên tắc thì nghĩa vụ của bên nhận cầm có phải giữ gìn, bảo quản tài sản cầm cố.
Trong khi đó pháp luật về đất đai quy định là đất đai phải được khai thác, sử dụng đúng mục đích, cho nên nếu tài sản cầm cô là quyền sử dụng đất giao cho bên nhận cầm cô mà bên nhận cầm cố không sử dụng thì sẽ bị thu hồi quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Điểm h khoản 2 Điều 64 Luật đất đai quy định về thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai thì Nhà nước thu hồi trong các trường sau đây: “h). Dat trong cây hàng năm không sử dụng 12 tháng liên tục, đất trồng cây lâu năm không sử dụng liên tục 18 tháng liên tục, dat trồng rừng không sử dụng 24 tháng liên tục”. Như vậy, nếu tài sản cam cố là quyền sử dụng đất mà bên nhận cầm cố không sử dụng theo thời hạn quy định tại điểm h khoản 1 Điều 64 Luật đất dai thi sẽ bị Nhà nước thu hồi.
Mặt khác, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. là những tài sản có giá trị lớn và là tư liệu sản xuất chủ yếu của doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân nếu đem cầm cô thì bên cầm cố không khai thác sử dụng được tài sản này, do vậy sẽ không thu hoa lợi, lợi tức. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất, kinh doanh của bên cầm cô bất động 2 Xx 2 2 RK r oA bề RK 2 Ẫ Fr 5 san và anh hưởng dén sự phát triên kinh tê của dat nước ”.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=77296 15 Với thực trạng hiện nay, Luật Đất đai quy định là người sử dụng đất không có quyền cầm có, chỉ có các quyền sau: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất. Ngoài Luật Đất dai, thì quy định tại điểm d khoản 1 Điều 10 Luật Nhà ở năm 2014 về quyền của chủ sở hữu nhà ở cũng không hề có đề cập tới biện pháp cầm có.
Theo ý kiến cá nhân của tác giả, nha làm luật cho rang “đất” không thé cam cô được vi “đất” là tư liệu dé người dan sản xuất và sinh sống. Nếu cầm có đất thì người dân không có tư liệu để sản xuất tạo ra của cải cũng như không có nơi dé sinh sống, vì khi cầm có bên cầm có phải giao tài sản cam cố cho bên nhận cầm có. Tương tự đối với nhà ở cũng không phải là đối tượng của cầm có theo quy định của Luật Nha ở năm 2014 vi nha làm luật dự liệu rằng nếu cầm cô nhà ở của mình thì rất có kha năng bên cầm cố sẽ không có nhà dé ở, phục vụ sinh hoạt hang ngày va còn có thé ảnh hưởng tới đời sống của cả những người liên quan (những người cùng chung sống trong nhà ở). Do đó, Luật Đất dai năm 2013 sửa đôi, bô sung năm 2018 và Luật Nhà ở năm 2014 chỉ liệt kê biện pháp thế chấp mà không quy định về biện pháp cầm có.
Điều này dẫn tới có sự “vênh” giữa quy định của BLDS năm 2015 và quy định tại Luật Dat đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, điều tất yêu là sẽ phải sửa quy định của Luật Dat dai và Luật nhà ở dé phù hợp với BLDS năm 2015 và phù hợp với điều kiện đời sống xã hội hiện nay. (3) Trường hop tài sản cầm cé là giấy tờ có giá. Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010, sửa đôi, bô sung năm 2022 đã định nghĩa “Giấy tờ có giá là bang chứng xác nhận nghĩa vu trả nợ giữa tô chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, diéu kiện trả lãi và những diéu kiện khác”. Về cơ bản, giẫy tờ có giá là tài sản hoàn toàn có thé trở thành đối tượng của cầm cô tài sản.
Thực chất, giấy tờ có giá luôn được tiếp cận dưới ý nghĩa là một quyền tài sản, giá trị tài sản không năm trực tiêp trên các loại giây tờ này, ma chung chỉ đơn 16 thuần là những “băng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ”. Các chủ thê không khai thác trực tiếp công năng của các loại giấy tờ này mà thực tế họ chỉ khai thác quyên tài sản được ghi nhận trên các giấy tờ có giá đó. Tuy nhiên, có một số giấy tờ có giá có những đặc thù được điều luật khác điều chỉnh mà không thé cầm có nếu không thỏa mãn các điều kiện quy định. Với trường hợp cổ phiếu, căn cứ vào Luật Doanh nghiệp năm 2020, sửa đôi, bố sung năm 2022, việc cầm có cô phan, cổ phiếu của cô đông sáng lập bị hạn chế khi phải xử ly tài sản bảo đảm vì quy định trong thời hạn 3 năm, ké từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cô đông sáng lập chi được chuyền nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác; nếu chuyển nhượng cho người không là cô đông sáng lập phải được sự chấp thuận của Dai hội đồng cô đông 5.
Theo Luật Các tô chức tin dụng năm 2010, sửa đôi, bố sung năm 2017, việc cầm cô cô phân, cô phiếu của các tô chức tín dụng cũng bị hạn chế trong một số trường hợp tại thời điểm cầm cố hoặc thời điểm phải xử ly chuyển nhượng cô phan. Đó là tổ chức tín dụng không được nhận bảo đảm băng cô phiếu của chính tổ chức tin dụng hoặc công ty con của tô chức tín dung dé cấp tín dụng ’. Và cổ đông là cá nhân, cô đông là tổ chức có người đại diện là thành viên Hội đồng quản tri, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của tổ chức tín dụng không được chuyên nhượng cổ phan của mình trong thời han đảm nhiệm chức vụ Ÿ. Việc pháp luật quy định không được chuyên nhượng cô phan, tức là bi hạn chế quyền định đoạt và cũng tương đương với việc không được cầm cố cô phiếu trong trường hợp này.
(4) Tài sản cầm cố là quyên tài sản. Theo quy định tại Điều 115 BLDS năm 2015: “Quyên tài sản là quyên trị giá được bằng tiên, bao gom quyển tài sản đổi với đối tượng quyên sở hữu trí tuệ, quyên sử dụng dat và các quyển tài sản khác”. Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bố sung năm 2009, 2019, 5 Khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp năm 2020, sửa đổi, bổ sung năm 2022 7 Khoản 5 Điêu 126 Luật Các tô chức tín dụng năm 2010, sửa đôi, bô sung năm 2017 Š Khoản I Điều 56 Luật Các tổ chức tin dụng năm 2010, sửa đôi, bô sung năm 2017 17 2022 không quy định cụ thê về việc chủ thé được quyền cầm cố tài sản mà chỉ quy định về việc chuyên giao quyền sở hữu trí tuệ tại Chương IV (chuyển giao quyên tác giả, quyền liên quan); Chương X (chuyền giao quyền sở hữu công nghiệp) và Chương XV (chuyên giao quyền đối với giống cây trồng).