CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài “Học đi đôi với hành” là một câu nói mang ý nghĩa sâu sắc với các sinh viên. Học là việc tiếp thu kiến thức thông qua sách vở và thầy cô.
Hành là việc vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, ứng dụng những kiến thức đó để tạo ra giá trị trong cuộc sống. Học và hành là hai quá trình luôn đi đôi với nhau, hai quá trình này như hai mảnh ghép kết nối lại với nhau giúp xây dụng một nền móng vững chắc về mặt kiến thức và kinh nghiệm. Nếu chỉ có học lý thuyết suông mà không có thực hành thì những kiến thức đó cũng trở nên vô nghĩa, ngược lại nếu thực hành mà không có nền tảng lý thuyết thì cũng không thể làm được gì. Các ngành kỹ thuật nói chung và ngành công nghệ kỹ thuật ô tô nói riêng hiện nay đang chịu áp lực rất lớn của cuộc cách mạng 4.
Ngành công nghệ kỹ thuật ô tô được nhận định là một trong những ngành đi đầu, gánh vác trách nhiệm kéo theo sự phát triển công nghiệp của các ngành công nghiệp khác. Cùng với sự phát triển của thị trường nguồn nhân lực chất lượng ngành công nghệ kỹ thuật ô tô đang bài toán khó cho các doanh nghiệp, vì vậy để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của ngành này việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đang là ưu thế hàng đầu. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam thực tế đang cho thấy chương trình đào tạo của các sinh viên rất nhiều, các bạn phải tiếp thu một lượng kiến thức khổng lồ chỉ trong 4 năm đại học. Việc này dẫn đến các bạn bị hạn chế và thời gian thực hành, tiếp cận thực tế, khiến các bạn bị bỡ ngỡ sau khi ra trường.
Xuất phát từ các nhu cầu thực tiễn trên, việc nghiên cứu đề tài “Biên soạn tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống điều khiển và chuyển động xe tải Hino 500” là một giải pháp nhằm nâng cao kiến thức của các bạn sinh viên, giúp các bạn có kinh nghiệm thực hành trên những dòng xe ngoài thực tế. Chúng em hy vọng đây sẽ trở thành một hành trang quý báu cho các bạn sinh viên trong tương lai. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là cung cấp kiến thức về quy trình bảo dưỡng và sửa chữa của hệ thống lái, hệ thống phanh, hệ thống treo nhằm đem đến một nguồn tài liệu phục vụ cho việc tự học tại nhà. Qua đó, tạo ra một tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên chuyên ngành kỹ thuật ô tô với mong muốn nâng cao tay nghề và để đáp yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của thị trường.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là xe tải Hino 500. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu lý thuyết tổng quan, cấu tạo, quy trình bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống lái, hệ thống phanh và hệ thống treo của xe tải Hino 500. Phương pháp nghiên cứu Kết hợp nghiên cứu lý thuyết với thực tế: - Lý thuyết: Nguyên lý hoạt động, cấu tạo và quy trình bảo dưỡng và sửa chữa của hệ thống lái, hệ thống phanh và hệ thống treo thông qua tham khảo các tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng và sửa chữa, giáo trình chuyên ngành. Bên cạnh đó, tham vấn trực tiếp giảng viên hướng dẫn.
- Thực tế: Tham khảo quy trình bảo dưỡng và sửa chữa của hệ thống lái, hệ thống phanh và hệ thống treo của kỹ thuật viên. Nhiệm vụ và phân loại hệ thống lái 2. Nhiệm vụ Hệ thống lái có nhệm vụ là truyền và thay đổi chuyển động của người lái tác dụng lên vô lăng thông qua trục lái, cơ cấu lái và các thanh dẫn động lái tới bánh xe dẫn hướng. Qua đó, làm thay đổi hướng di chuyển của xe.
Theo cách bố trí tay lái Theo cách bố trí tay lái hệ thống lái được chia thành: - Hệ thống lái có tay lái bố trí bên phải: dùng ở những nước có luật đi đường theo phía bên trái như ở các nước Anh, Nhật, Thụy Điển,… - Hệ thống lái có tay lái bố trí bên trái: dùng ở những nước có luật đi đường theo phía bên phải như ở các nước Việt Nam, Nga, Lào, Campuchia, Trung Quốc,… 2. Theo số lượng bánh dẫn hướng Theo số lượng bánh dẫn hướng hệ thống lái được chia thành: - Hệ thống lái với các bánh dẫn hướng ở cầu trước - Hệ thống lái với các bánh dẫn hướng hai cầu - Hệ thống lái với các bánh dẫn hướng ở tất cả các cầu 2. Theo kết cấu và nguyên lý của cơ cấu lái Hình 2.1: Cơ cấu lái loại trục vít - chốt quay 1.Trục đòng quay đứng 4. Các tấm đệm điều 3.Trục lái chỉnh 3 Theo kết cấu và nguyên lý của cơ cấu lái hệ thống lái được phân thành: - Loại trục vít – cung răng - Loại trục vít – con lăn - Loại trục vít – đai ốc bi hồi chuyển - Loại trục vít – chốt quay - Loại bánh răng, thanh răng - Loại kết hợp 2.
Theo tính chất của cơ cấu lái Theo tính chất của cơ cấu lái, hệ thống lái được phân thành: - Hệ thống lái không có trợ lực - Hệ thống lái có trợ lực Đối với hệ thống lái có trợ lực còn được phân ra: - Loại trợ lực bằng thuỷ lực - Loại trợ lực bằng điện Hình 2.2: Hệ thống lái với cơ cấu lái không có trợ lực 2. Cấu tạo và nguyên lý hoạt động hệ thống lái 2. Vô lăng lái Vô lăng lái là một vành bằng thép (Thường có hình tròn), ở giữa có một lỗ côn gia công rãnh then hoa để lắp ghép với trục lái. Trên vô lăng lái, người ta bố trí nhiều phím chức năng điều khiển nhiều hoạt động khác của ô tô như: công tắc điều khiển máy nghe nhạc, công tắc đèn, còi… Vô lăng lái có nhiệm vụ điều khiển hoạt động lái.
Nếu muốn chuyển hướng, người lái xoay vô lăng lái theo hướng mong muốn, vô lăng sẽ dẫn động các phần còn lại của hệ thống lái để ô tô hướng theo mong muốn của người lái. Trục lái Trục lái bao gồm trục lái chính truyền chuyển động quay của vô lăng tới cơ cấu lái và ống bọc trục lái. 4 Đầu phía trên trục lái được chế tạo côn với then hoa và vô lăng được siết vào trục lái bằng một đai ốc. Trong trục lái có cơ cấu hấp thụ và va đập.
Cơ cấu này sẽ hấp thụ lực va đập tác động lên người lái khi bị tai nạn. Trục lái chính ngoài những cơ cấu như cơ cấu khoá tay lái, cơ cấu tay lái nghiêng, cơ cấu trượt tay lái. Một số cơ cấu khác của trục lái chính: Hình 2.3: Cơ cấu khóa tay lái - Cơ cấu khoá tay lái: cơ cấu vô hiệu hoá vô lăng đề phòng chống trộm ô tô bằng cách khoá trục chính vào ống trục lái khi rút chìa khoa điện. - Cơ cấu khoá tay lái nghiêng: cho phép điều chỉnh độ nghiêng của trục lái để thích hợp với vị trí ngồi lái cũng như phù hợp với chiều cao của người lái.
- Cơ cấu hấp thụ va đập: tránh hoặc giảm được thương tích cho người lái khi xe bị tai nạn. Cơ cấu hấp thụ va đập gồm một số loại sau: loại giá đỡ uốn, loại bi loại cao su, loại ăn khớp, loại ống xếp. Các thanh dẫn động lái Hình 2.4: Các thanh dẫn động lái trong hệ thống treo phụ thuộc 1. Thanh ngang 5 Các thanh dẫn động lái có nhiệm vụ truyền lực từ cơ cấu lái để điều khiển chuyển động của bánh xe và bảo đảm động học bánh dẫn hướng.
Các thanh dẫn động lái như: thanh ngang, thanh kéo, thanh lái, cam quay, đòn cam quay và đòn quay. Vô lăng lái và trục lái kết hợp với các bộ phận kể trên để truyền chuyển động của cơ cấu lái tới các bánh xe phía trước. Khi người lái đánh lái, thông qua cơ cấu lái, thanh ngang, thanh kéo, thanh lái, cam quay, đòn cam quay và đòn quay làm cho các bánh xe chuyển hướng theo hướng quay của vô lăng.5: Cơ cấu lái loại bánh răng – thanh răng 1. Trục bánh răng 7.
Đai ốc khóa 12.Cao su chắn bụi 4. Dẫn hướng thanh răng 9. Ốc điều chỉnh 10. Vỏ cơ cấu lái Cơ cấu lái có nhiệm vụ biến đổi mô men và hướng chuyển động từ vô lăng truyền cho các thanh dẫn động lái và bánh xe dẫn hướng để chuyển hướng.
Giảm nhẹ lực va đập từ mặt đường lên vô lăng lái. Cơ cấu lái là cơ cấu dùng các bộ truyền động bánh răng, trục vít, đai ốc, để chuyển đổi mô men lái và hướng quay từ vô lăng, truyền tới bánh xe thông qua hệ thanh dẫn động lái làm xe quay vòng. Cơ cấu lái kiểu bánh răng – thanh răng có cấu tạo đơn giản nên được sử dụng khá rộng rãi trên các loại ô tô. Trợ lực lái Trợ lực lái có nhiệm vụ giảm lực quay vô lăng, nhằm hỗ trợ tài xế đánh lái dễ dàng.
Hệ thống trợ lực lái khá phát triển nhưng phổ biến nhất hiện nay là trợ lực lái thủy lực và trợ lực lái điện. Van điều khiển Trục van được nối với trục chủ động bằng khớp then và được cố định với thanh xoắn. Khi trục chủ động quay làm cho thanh xoắn và trục van quay theo. Do thanh xoắn không quay hoàn toàn, chỉ truyền được một phần mô men từ trục chủ động đến trục vít.
Khi trục van quay sẽ làm thay đổi đường dầu từ bơm dẫn đến các buồng xy lanh.6: Cấu tạo van điều khiển kiểu van trượt 1.Cụm vỏ van 5.Trục cung răng 9.Cụm van trục vít 6.Nắp chắn bụi 10. Đai ốc hãm vít điều 3.Ổ bi đũa kim chỉnh 4.Pít tông trợ lực 8.Phớt chặn dầu 11. Thanh xoắn Van điều khiển được đặt trong cơ cấu lái, nó quyết định đưa dầu trợ lực lái đi vào buồng nào của xy lanh trợ lực. Thanh xoắn có chức năng như một lò xo liên kết giữa trục vít và trục van điều khiển, nó có xu hướng luôn kéo hai chi tiết này về lại trạng thái ban đầu.
Van điều khiển có ba trạng thái làm việc là khi xe đi thẳng, khi xe quay vòng sáng trái và khi xe xe quay vòng sang phải. 7 Khi xe đi thẳng (Tại vị trí trung gian) Hình 2.7: Hoạt động của van điều khiển tại vị trí trung gian Khi vành tay lái ở vị trí trung gian, lúc này trục van điều khiển không quay. Nó nằm ở vị trí trung gian so với van quay. Dầu do bơm cung cấp sẽ quay trở lại bình chứa.