mở đầu cho giai đoạn mới của cải cách mở cửa ở Trung Quốc. Về phát triển giáo dục, Báo cáo Chính trị do Chủ tịch Giang Trạch Dân trình bày xác định rõ: Khoa học tiến bộ, kinh tế phồn vinh, xã hội phát triển về căn bản được quyết định bởi chất lượng lao động và vấn đề đặt ra trước mắt là phải bồi dưỡng được một lượng lớn nhân tài. Trung Quốc phải dốc sức phát triển giáo dục, phải đặt sự nghiệp giáo dục vào vị trí chiến lược, ưu tiên phát triển trong nền kinh tế quốc dân. Hy vọng chấn hưng đất nước đặt vào giáo dục.
Chỉ có giáo dục mới có thể nâng cao được tố chất con người và đào tạo ra những người lao động hiện đại mới. Với tinh thần đó, trải qua hơn 10 năm thực hiện cải cách nền giáo dục Trung Quốc đã thay đổi rất nhiều cả số lượng và chất lượng nhất là ở bậc đại học. Có thể nói sự thay đổi trong giáo dục đại học của Trung Quốc là sự thay đổi sâu sắc và rộng lớn thể hiện qua các phương diện như quy mô, đổi mới ngành học, phát triển chức năng và nâng cao chất lượng. Về mở rộng quy mô, chỉ trong một thời gian ngắn tiến hành tuyển sinh với quy mô lớn đã đưa giáo nền giáo dục đại học Trung Quốc bước vào giai đoạn đại chúng hóa.
Về các ngành học, không chỉ cải cách mà Trung Quốc còn quan tâm khôi phục những chuyên ngành bị bỏ không hợp lí trước kia như kinh tế học, chính trị học, luật, giáo dục học v.v… Về phát triển chức năng, chú trọng cải cách mô hình đào tạo nhân tài, mở rộng hình thức kết hợp vừa học vừa nghiên cứu, tăng cường bồi dưỡng toàn diện. Về nâng cao chất lượng Trung Quốc thể hiện rõ quyết tâm xây dựng trường đại học đạt tầm cỡ quốc tế v.v… Nhìn chung, những tiến bộ to lớn mà nền giáo dục Trung Quốc dành được từ những năm 90 thế kỉ 20 cho đến năm 2013 biểu hiện ở những mặt sau: mở rộng quy mô nhanh chóng; chất lượng giáo dục có được sự quan tâm đúng mức; cải cách thể chế mang tính đột phá, tiến triển tích cực; thành quả nghiên cứu khoa học phong phú. Với mục đích nghiên cứu Hợp tác giáo dục Trung Quốc và Viêt Nam từ năm 1991 đến năm 2013 trong chương này chủ yếu là tìm hiểu sự thay đổi trong nền giáo dục bậc đại học của Trung Quốc thông qua những phương diện sau : cơ chế 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục đại học; mô hình bồi dưỡng nhân tài; xây dựng đội ngũ giáo viên, cải cách phương pháp dạy và giao lưu với bên ngoài.1 Cơ chế giáo dục đại học Từ sau thập niên 90 của thế kỉ 20 nền giáo dục đại học Trung Quốc đã phát triển và dành được những thành tựu to lớn, chủ yếu là trên những phương diện sau: cơ chế tuyển sinh, cơ chế đầu tư kinh phí, cơ chế thu học phí, cơ chế quản lí vĩ mô, cơ chế nhập học, cơ chế quản lí nội bộ và tìm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Cơ chế nhập học giáo dục đại học Trung Quốc đã có bước đột phá.
Trong nền kinh tế bao cấp cơ chế nhập học giáo dục đại học tương đối đơn giản, quyền lực của chính quyền nhà nước cho đến các cơ quan quản lí giáo dục rất tập trung. Cơ chế nhập học này lấy nhà nước làm chủ thể, nhà nước và chính quyền các cấp có vai trò quyết định, vừa là người thực hiện vừa là người quản lí. Đến nay số lượng các trường dân lập tương đối nhiều và cũng có nhiều cống hiến cho nền giáo dục Trung Quốc. Cơ chế nhập học và đa dạng hình thức nhập học là một trong những thành quả trong cải cách giáo dục đại học Trung Quốc.
Cơ chế đầu tư kinh phí giáo dục đại học cũng rất đa dạng. Từ thập niên 90 của thế kỉ 20 cho đến nay nguồn kinh phí dành cho giáo dục đại học đã hoàn toàn không phải là do nhà nước cung cấp mà trở thành cơ chế đầu tư giáo dục mới với nhiều con đường khác nhau. Cơ chế đầu tư cho giáo dục đại học trải qua quá trình phát triển từ chỉ đơn nhất chính phủ đầu tư đến nay là cá nhân, chính phủ và xã hội đều có thể đầu tư. Cơ chế tìm việc làm sau khi cơ chế kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường, chế độ tìm việc làm của sinh viên Trung Quốc có sự thay đổi rất lớn.
Từ cơ chế nhà nước phân bổ chuyển thành tự bản thân sinh viên căn cứ theo chuyên ngành và nguyện vọng của mình để tìm việc làm. Vì thế hiện nay sinh viên Trung Quốc sau khi tốt nghiệp sẽ tự chủ tìm việc, coi thị trường lao động là nền tảng, lấy chính sách của nhà trường và quốc gia làm phương hướng, sinh viên tự lựa chọn ngành nghề mà mình muốn. Quyết sách này một khi thực hiện không chỉ tạo cơ sở thay đổi chế 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ tìm việc làm cho sinh viên mà còn tăng sự lựa chọn cho cả sinh viên và đơn vị tuyển dụng. Thông qua hình thức lựa chọn đôi bên này có lợi cho cơ chế cạnh tranh thị trường và lưu chuyển nhân tài.
Cơ chế quản lí nội bộ từ sau thập niên 90 của thế kỉ 20 cải cách giáo dục đại học cho đến nay xuyên suốt quá trình cải cách giáo dục đại học. Có thể chia thành hai giai đoạn quan trọng sau: năm 1993 đến năm 1997, đây là giai đoạn giáo dục đại học Trung Quốc đi vào cải cách; từ năm 1997 đến năm 2013 cả nước Trung Quốc thực thi công cuộc cải cách và đã đạt được những thành tựu nhất định. Trải qua hai giai đoạn công cuộc cải cách cơ chế quản lí nội bộ đã đạt được rất nhiều thành tựu, giảm biên chế nhân viên quản lí và cơ cấu nội bộ, bắt đầu xây dựng chế độ viên chức giáo dục, điều chỉnh tổ chức dạy học, điều chỉnh chế độ trợ cấp chức vụ phổ biến trong các trường đại học v.2 Mô hình bồi dưỡng nhân tài Mở rộng quy mô giáo dục, sau thập niên 90 của thế kỉ 20 quy mô giáo dục đại học của Trung Quốc không ngừng được mở rộng, thể hiện ở số lượng trường học, sinh viên, nghiên cứu sinh không ngừng gia tăng. Đầu tiên quy mô nhà trường của giáo dục đại học có bước phát triển đặc biệt là về số lượng.
Năm 2009 các trường đại học phổ thông đã đạt tới 1. Số lượng sinh viên cũng dần dần tăng lên, ví dụ năm 1980 cả nước có 1.000 sinh viên, đến năm 1996 đã là 5.000, tăng gấp 4 lần; Năm 1998 số lượng sinh viên đang theo học tại các trường khoảng 3,4 triệu sinh viên đến năm 2009 đã tăng lên đến khoảng 4,3 triệu sinh viên, con số này có thể sẽ tăng lên mang tính đột phá. Số lượng sinh viên trong các trường đại học thông thường tăng nhiều hơn so với số lượng số lượng nghiên cứu sinh. Năm 1996 số nghiên cứu sinh là 160.000 tăng gấp 8 lần [22] so với năm 1980.
Không những tăng lên về số lượng nghiên cứu sinh mà chất lượng bồi dưỡng cũng phải dần dần nâng cao. Năm 1998 quy mô bồi dưỡng nghiên cứu sinh trong nước đạt 198. Cho đến cuối năm 2013 số lượng nghiên cứu sinh đạt 819.000, trong đó tiến sĩ là 165.000 nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp thì số lượng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu sinh đã vượt qua con số 900. Có thể nói sự tăng trưởng số lượng sinh viên thực sự khiến mọi người khó có thể dự đoán trước.
Từ sau năm 2000 Trung Quốc cũng xây dựng các trường dành cho người lớn tuổi và hiện có khoảng 297 trường đại học dạng này với số người theo học khoảng gần 4,19 triệu. Trong hệ thống giáo dục Trung Quốc cũng xuất hiện một loại trường mang tính chất độc lập. Sự hình thành của các trường này là do giáo dục đại học mở rộng quá nhanh nhà nước không đủ kinh phí, hoặc có một số nơi tuy tiến hành mở rộng nhưng kinh phí lại bị thu hẹp. Để giải quyết được những vấn đề này Trung Quốc quyết định lấy khu vực Giang Tô đến Triết Giang thí điểm thành lập các trường đại học độc lập mang tính chất dân dân lập.
Những trường đại học này có đặc thù riêng là có thể tự ban hành các qui định mà không cần phải xem xét ảnh hưởng với các trường khác nhưng lại là những trường thu học phí cao. Năm 2010 số lượng các trường này đạt tới con số 290. Mở rộng quy mô giáo dục đại học, một mặt là nâng cao khả năng đào tạo của hệ thống giáo dục đại học, bồi dưỡng nhân tài, tăng thêm quan hệ mật thiết và trực tiếp giữa nhà trường và xã hội; một mặt thúc đẩy phát triển giáo dục phổ thông giảm bớt áp lực đối với giáo dục cơ sở. Mặt khác mở rộng quy mô giáo dục đại học làm cho tỉ lệ nhập học tăng lên rõ rệt.
Sau thập niên 90 của thế kỉ 20 giáo dục đại học Trung Quốc bước vào giai đoạn đại chúng hóa, tỉ lệ học sinh nhập học đạt mức 15%. Đến năm 2013 tổng quy mô học sinh đang theo học ở tất cả các loại hình đại học đạt 34,6 triệu nâng tỉ lệ nhập học lên 34,5%. Vào thời gian này Trung Quốc có 2.788 trường đại học dành cho sinh viên và trường đại học phổ thông. Đối với nhiệm vụ đào tạo sau đại học, ngay từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc cải cách mở cửa Trung Quốc đã có sự quan tâm thích đáng.
Chế độ học vị của Trung Quốc được xây dựng từ năm 1981 đã qui định sau khi tốt nghiệp đại học sinh viên có thể tiếp tục được đào tạo sau đại học bao gồm 2 bậc, học viên đều gọi là nghiên cứu sinh, NCS thạc sĩ và NCS tiến sĩ. Nếu như trước đây số lượng cơ sở được đào tạo sau đại học và số người có trình độ sau đại học là rất ít thì đến giai đoạn này Trung Quốc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có chủ trương đẩy mạnh chế độ đào tạo và cũng tạo điều kiện thuận lợi để cho nhiều trường đại học có khả năng đảm nhận được nhiệm vụ này. Tính đến hết năm 1997 tức là sau 16 năm thực hiện điều lệ học vị, Trung Quốc đã đào tạo được trên 349. Trong năm học 1997 đang có 150 ngàn NCS trong đó có 30 ngàn NCS làm luận án tiến sĩ.