Luận văn tốt nghiệp về giao kết và thực hiện hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Luận văn phân tích Hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015: Luận văn tốt nghiệp, vận dụng lý thuyết vững chắc, đề xuất giải pháp sáng tạo cho luật

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

62
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

1.1. Một số vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng

1.2. Khái niệm giao kết hợp đồng

1.3. Trình tự giao kết hợp đồng

1.4. Thời điểm giao kết hợp đồng

1.5. Một số vấn đề lý luận về thực hiện hợp đồng

1.6. Đặc điểm thực hiện hợp đồng

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

2.1. Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015

2.2. Đề nghị giao kết hợp đồng

2.3. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

2.4. Thời điểm giao kết hợp đồng

2.5. Thực trạng pháp luật về thực hiện hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015

2.6. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng

2.7. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015

3.2. Đề nghị giao kết hợp đồng

3.3. Chấp nhận nhận đề nghị giao kết hợp đồng

3.4. Thời điểm giao kết hợp đồng

3.5. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015

3.6. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng

3.7. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái niệm và vai trò của hợp đồng

Trong Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng được định nghĩa là sự thống nhất ý chí giữa các bên nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng không chỉ là một văn bản pháp lý mà còn là công cụ quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự. Việc hiểu rõ khái niệm này giúp các bên tham gia hợp đồng nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Theo quy định, hợp đồng có thể được hình thành qua nhiều hình thức khác nhau, từ lời nói đến văn bản. Điều này tạo ra sự linh hoạt trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, để hợp đồng có hiệu lực, các bên cần tuân thủ các quy định pháp lý nhất định. Việc này không chỉ đảm bảo tính hợp pháp mà còn bảo vệ quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.

1.1. Đặc điểm của hợp đồng

Một trong những đặc điểm nổi bật của hợp đồng là tính tự nguyện. Các bên tham gia hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện và không bị ép buộc. Điều này được thể hiện qua việc các bên có quyền tự do lựa chọn nội dung và hình thức của hợp đồng. Bên cạnh đó, hợp đồng còn có tính chất ràng buộc, nghĩa là các bên phải thực hiện đúng các cam kết đã thỏa thuận. Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ, bên còn lại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tính chất này của hợp đồng tạo ra sự ổn định trong các quan hệ dân sự và thương mại.

II. Quy trình giao kết hợp đồng

Quy trình giao kết hợp đồng bao gồm hai giai đoạn chính: đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị. Giai đoạn đầu tiên là khi một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng. Đề nghị này có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc văn bản. Sau khi nhận được đề nghị, bên còn lại có quyền chấp nhận, từ chối hoặc đưa ra các điều kiện khác. Việc chấp nhận đề nghị phải được thực hiện trong thời gian quy định, nếu không sẽ dẫn đến việc đề nghị hết hiệu lực. Điều này thể hiện rõ trong quy định của Bộ luật Dân sự 2015, nơi nhấn mạnh tầm quan trọng của thời điểm giao kết. Thời điểm này không chỉ xác định khi nào hợp đồng có hiệu lực mà còn ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các bên.

2.1. Thời điểm giao kết hợp đồng

Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm mà các bên đạt được sự đồng thuận về nội dung của hợp đồng. Theo quy định, thời điểm này có thể được xác định rõ ràng trong văn bản hoặc thông qua hành vi thực tế của các bên. Việc xác định thời điểm giao kết có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ sau thời điểm này, bên còn lại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có sự rõ ràng và minh bạch trong quá trình giao kết hợp đồng.

III. Thực hiện hợp đồng và trách nhiệm pháp lý

Sau khi hợp đồng được giao kết, các bên có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận. Việc thực hiện hợp đồng không chỉ đơn thuần là việc làm theo nội dung đã ký kết mà còn bao gồm cả việc đảm bảo chất lượng và thời gian thực hiện. Nếu một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ, bên còn lại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ về trách nhiệm pháp lý trong trường hợp vi phạm hợp đồng. Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của các bên mà còn tạo ra một môi trường pháp lý ổn định cho các giao dịch dân sự.

3.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong những nội dung quan trọng trong việc thực hiện hợp đồng. Theo quy định, nếu một bên vi phạm nghĩa vụ, bên còn lại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Mức bồi thường sẽ được xác định dựa trên thiệt hại thực tế mà bên bị vi phạm phải gánh chịu. Điều này không chỉ đảm bảo quyền lợi cho bên bị vi phạm mà còn tạo ra động lực cho các bên thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Việc quy định rõ ràng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Dân sự 2015 là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng.

25/01/2025
Luận văn tốt nghiệp giao kết thực hiện hợp đồng theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀGIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG 1. Một số vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng 1. Khái niệm giao kết hợp đồng Xét về bản chất, hợp đồng là sự thống nhất ý chí của các bên. Tuy nhiên sự thống nhất ý chí không phải chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà trong nhiều trường hợp đó chính là kết quả của quá trình trao đổi, đàm phán để đạt được sự thỏa thuận và thống nhất ý chí về việc cùng nhau tạo lập hợp đồng.

Quá trình đó được định danh trong luật bằng thuật ngữ pháp lý “giao kết hợp đồng”. Thuật ngữ “giao kết hợp đồng” là một thuật ngữ pháp lý quan trọng của pháp luật hợp đồng. Tuy nhiên, cách hiểu về thuật ngữ này cũng tồn tại nhiều quan điểm không đồng nhất. Trong Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Tố tụng Dân sự) của Trường Đại học Luật Hà Nội có đề cập đến khái niệm “giao kết hợp đồng” và cho rằng: “Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ và thống nhất ý chí với nhau dưới hình thức lời nói (bằng miệng) hoặc văn bản theo những nguyên tắc và trình tự nhất định nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau trong hợp đồng dân sự”.

Có thể thấy cách hiểu này đã nêu ra được những đặc điểm cơ bản củaquá trình giao kết hợp đồng, tuy nhiên việc liệt kê các hình thức bày tỏ và thống nhất ý chí là hình thức bằng “lời nói” và “văn bản” đã thể hiện sự hạn chế và chưa thật sự phù hợp với thực tế của giao kết hợp đồng. Không đề cập đến vấn đề hình thức và nội dung của giao kết hợp đồng, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ dân sự”. Có quan điểm khá tương đồng với quan điểm của Trường Đại học Luật Hà Nội, TS. Lê Minh Hùng đưa ra khái niệm giao kết hợp đồng như sau: “Giao kết hợp đồng là việc các bên chủ thể bày tỏ ý chí muốn cùng nhau xác lập hợp đồng thông qua sự bàn bạc, trao đổi, thương lượng theo các nguyên tắc và trình tự do luật định để đạt được sự đồng thuận nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng giữa các bên với nhau”.

Qua việc tìm hiểu các khái niệm về giao kết hợp đồng, có thể thấy các quan điểm trên mặc dù có cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả đều đi đến chung bản chất của giao kết hợp đồng là một quá trình pháp lý phức tạp, bao gồm ba yếu tố: có sự tham gia của các bên Luan van 7 trong hợp đồng, có sự bày tỏ ý chí đơn phương của từng bên về việc muốn tạo lập hợp đồng và có sự kết hợp ý chí riêng của mỗi bên để tạo ra sự đồng thuận trong hợp đồng. Để giao kết hợp đồng có hiệu lực, các bên phải bày tỏ ý chí theo những hình thức được pháp luật chấp nhận. Như vậy, giao kết hợp đồng dân sự có thể hiểu là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định được pháp luật thừa nhận nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ đối với nhau. Trình tự giao kết hợp đồng Quá trình giao kết hợp đồng bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng và giai đoạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.

Đề nghị giao kết hợp đồng Để khởi tạo một hợp đồng, cần có sự khởi xướng của một bên đầu tiên. Thường thì sự khởi xướng của một bên có thể bắt đầu bằng những tuyên bố có tính chất đề xuất thương lượng hợp đồng hoặc là đề nghị giao kết hợp đồng. Về mặt lý luận, đề nghị giao kết hợp đồng được hiểu là một hành vi pháp lý đơn phương của một bên nhằm thể hiện ý chí của mình về việc muốn cùng một bên (có thể là một hoặc nhiều người xác định) giao kết hợp đồng với những nội dung và điều kiện cụ thể. Đề nghị giao kết hợp đồng phải đáp ứng được những yêu cầu pháp lý nhất định, thường là các yêu cầu như sau: Một là, lời đề nghị được đưa ra bởi người có tư cách giao kết, xác lập hợp đồng.

Muốn trở thành chủ thể của các quan hệ dân sự, các chủ thể phải có tư cách chủ thể để tham gia quan hệ pháp luật trong lĩnh vực tương ứng đó. Vì vậy, một lời đề nghị muốn có hiệu lực ràng buộc với bên đưa ra đề nghị, chủ thể đưa ra đề nghị phải có năng lực chủ thể và tư cách chủ thể để tham gia vào quan hệ pháp luật hợp đồng. Năng lực chủ thể ở đây bao gồm cả năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của chủ thể. Hai là, nội dung của lời đề nghị phải rõ ràng, cụ thể.

Một đề nghị phải xác định rõ ràng, nếu không, nó không được coi là một đề nghị giao kết hợp đồng mà chỉ là một đề nghị thương lượng hợp đồng. Tính xác định của một đề nghị thể hiện ở nội dung của nó. Tùy vào quan niệm pháp lý khác nhau mà tính rõ ràng, cụ thể của nội dung hợp đồng có thể được hiểu khác nhau. Có quan điểm cho rằng, đề nghị giao kết hợp đồng phải chứa đựng các nội dung cơ bản của hợp đồng tương lai, để đảm bảo rằng khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị thì hợp đồng được giao kết với nội dung được xác định trong đề nghị và tránh được việc tòa án tuyên bố hợp đồng, đề nghị giao kết hợp đồng vô hiệu nếu thiếu các điều khoản chủ yếu.

Một quan điểm khác, theo GS. Vũ Văn Mẫu: “trong đề nghị cần phải nêu rõ ràng về các nội dung tối thiểu, thể hiện được bản chất và chủ đích của Luan van 8 hợp đồng”. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Bởi vì việc bắt buộc đề nghị giao kết hợp đồng phải chứa đựng đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng là thiếu tính khả thi, không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đời sống.

Nhưng nếu một đề nghị không hàm chứa những thông tin quan trọng thể hiện rõ ý định cụ thể của bên đề nghị về việc giao kết loại hợp đồng gì thì cũng sẽ không đủ cơ sở để coi đó là một đề nghị có giá trị pháp lý, vì không có nội dung cụ thể để có thể hiểu và thực hiện chúng. Chính vì vậy, sự rõ ràng và xác định của đề nghị giao kết hợp đồng có nghĩa là đề nghị giao kết đó phải thể hiện được mong muốn, chủ đích của hợp đồng và sự thiện chí của bên đề nghị giao kết. Ba là, đề nghị phải được gửi đến cho một hoặc nhiều người xác định. Lời đề nghị phải được đưa ra cho một bên khác xác định.

Người nhận đề nghị có thể là một thể nhân hoặc một pháp nhân: cá nhân được xác định bởi họ tên, quốc tịch, hộ khẩu thường trú (hoặc địa chỉ tạm trú); pháp nhân được xác định bởi tên, gọi, trụ sở và quốc tịch. Tính xác định của người được đề nghị thường được thể hiện khi bên đề nghị gửi đề nghị giao kết hợp đồng, vì khi đó bên đề nghị đã xác định được họ muốn giao kết hợp đồng với ai. Việc hiểu như thế nào về một hoặc nhiều người xác định đã dẫn đến trên thế giới hiện nay có hai xu hướng khác nhau tiếp cận về đề nghị giao kết hợp đồng liên quan đến người được đề nghị. Theo xu hướng thứ nhất, đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thể hiện đối với một chủ thể xác định cũng như đối với công chúng (quảng cáo, thông báo.

Những người theo xu hướng này giải thích “tính xác định cụ thể của người đề nghị” không phụ thuộc vào số lượng người mà chỉ cần trong lời đề nghị đưa ra được những tiêu chí khách quan để có thể xác định được rõ bên mà đề nghị sẽ được gửi tới. Xu hướng thứ hai là chỉ chấp nhận những đề nghị được thể hiện đối với một hay nhiều chủ thể được xác định hay có thể được xác định. Một lời đề nghị không thể được gửi tới công chúng vì công chúng là một tập người không xác định. Bốn là, bên đề nghị thật sự có ý muốn tạo lập hợp đồng.

Đề nghị phải thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và mong muốn được ràng buộc của bên đưa ra đề nghị đối với bên được đề nghị về những nội dung của đề nghị trên cơ sở nguyên tắc trung thực và thiện chí. Điều này thể hiện ở chỗ tuyên bố đề nghị giao kết hợp đồng phải là một hành vi nghiêm túc, thể hiện ý nguyện thực sự của bên đề nghị về việc muốn cùng bên kia giao kết, xác lập hợp đồng, bên được đề nghị tin tưởng rằng chỉ cần trả lời chấp nhận là hợp đồng được ký kết, sự chắc chắn đó tạo ra những ràng buộc pháp lý đối với bên đưa ra đề nghị. Để xác định ý chí mong muốn bị ràng buộc, người ta dựa vào tiêu chí: cách thức bên đề nghị trình bày một đề nghị, nội dung của bên đề nghị. Như vậy, đề nghị giao kết hợp đồng khác với lời đề xuất, chào mời thương lượng vì tính chất ràng buộc pháp lý của nó.

Đề xuất, chào mời thương lượng (mời đàm phán hợp Luan van 9 đồng) thường chỉ nêu ra sơ lược ý định giao dịch hay gợi ý để đối tác đặt hàng hay chào hàng. Do vậy, về mặt pháp lý, lời chào mời thương lượng hợp đồng hay đề xuất không có giá trị pháp lý ràng buộc đối với người mời. Trái lại, lời đề nghị giao kết hợp đồng được tạo ra hợp pháp, đáp ứng được những yêu cầu pháp lý được trình bày ở trên thì có hiệu lực ràng buộc đối với bên đưa ra đề nghị. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Chấp nhận đề nghị giao kết là lời hồi đáp của bên nhận được đề nghị với bên đề nghị để tạo nên một hợp đồng có hiệu lực ràng buộc giữa các bên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp về giao kết và thực hiện hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015" của tác giả Trần Quang Huy, dưới sự hướng dẫn của Th.s Lê Thu Trang, trình bày một cái nhìn sâu sắc về quy định pháp luật liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Bài luận không chỉ phân tích các quy định pháp lý mà còn nêu bật những vấn đề thực tiễn trong việc áp dụng luật, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình và các yếu tố cần thiết để hợp đồng có hiệu lực.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi theo Bộ luật Dân sự 2015, nơi phân tích sâu hơn về việc thực hiện hợp đồng trong bối cảnh thay đổi. Ngoài ra, Luận Văn Thạc Sĩ Về Nguyên Tắc Tự Do Giao Kết Hợp Đồng Theo Pháp Luật Dân Sự Việt Nam cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về nguyên tắc tự do trong giao kết hợp đồng, một khía cạnh quan trọng trong pháp luật dân sự. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015, giúp bạn nắm rõ các điều kiện cần thiết để hợp đồng có hiệu lực theo quy định hiện hành. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam.