Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ VÀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NỢ 1. Khái niệm, bản chất và phân loại nợ 1. Khái niệm về nợ Khi đề cập đến nợ thường là đề cập tới các tài sản mà bên nợ phải trả cho chủ nợ và được hiểu là “Vay nợ và phải trả” hoặc“cái vay phải trả mà chưa trả” [55, tr. Thuật ngữ “nợ” và “khoản nợ” được dùng phổ biến trong xã hội, không chỉ được sử dụng trong những trường hợp liên quan đến tài sản mà còn được dùng để chỉ cả những vấn đề khác trong đời sống xã hội.
Trong thực tế, khái niệm nợ cũng được hiểu là “Điều mang ơn mà chưa đền đáp được” hoặc “Đã hứa nhưng chưa thực hiện” [55, tr.52], có ý nghĩa ẩn dụ bao hàm các nghĩa vụ đạo đức, nghĩa vụ tự nhiên và các giao dịch khác không dựa trên cơ sở giá trị kinh tế. Trong Luận văn này, tác giả chỉ tập trung xem xét thuật ngữ “nợ” hay “khoản nợ” dưới góc độ liên quan đến tài sản. Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật quy định khái niệm “nợ” và khái niệm “khoản nợ” tương đồng với nhau và định nghĩa các khái niệm này theo hướng liệt kê các hoạt động kinh tế làm phát sinh khoản nợ. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 3 Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN [42], khoản nợ được mua, bán là khoản nợ được tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng nước ngoài cho khách hàng vay (kể cả khoản trả thay trong bảo lãnh) hiện đang còn dư nợ hoặc đang được theo dõi ngoại bảng.
Tại khoản 1 Điều 1 và khoản 2 Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN [45] quy định khoản nợ là số tiền TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã gửi, giải ngân từng lần theo thỏa thuận đối với các tài sản có (gọi tắt là nợ) gồm: Cho vay; Cho thuê tài chính; Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; Bao thanh toán; Các khoản cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng; Các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng…. Tuy nhiên, tại Luật quản lý nợ công năm 2009 không định nghĩa “nợ” hay 7 z “khoản nợ” theo hướng liệt kê các hoạt động làm phát sinh nợ giống như định nghĩa nêu trên, mà định nghĩa nợ là khoản phải hoàn trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan tại một thời điểm, phát sinh từ việc vay của chủ thể được phép vay vốn theo quy định của pháp luật Việt Nam [64, Điều 3, Khoản 1]. Trên thực tế, nợ cũng được định nghĩa là nghĩa vụ của tổ chức kinh tế, cá nhân này phải trả tài sản cho tổ chức kinh tế, cá nhân khác [8, Điều 3, Khoản 1]. Đây được coi là các định nghĩa đã làm rõ bản chất pháp lý của khoản nợ, phản ánh khoản nợ là nghĩa vụ của một bên đối với bên khác và hai chủ thể này luôn trái ngược nhau về mặt lợi ích: (i) Một bên có quyền đòi nợ; và (ii) một bên nợ phải trả tài sản cho bên kia.
Do vậy, dưới góc độ pháp lý, chúng ta không định nghĩa nợ theo hướng liệt kê các hoạt động làm phát sinh nợ mà có thể định nghĩa: Nợ (khoản nợ) là nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức phải trả tài sản cho cá nhân, tổ chức khác phát sinh từ hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Bản chất pháp lý của nợ Xét về bản chất pháp lý, nợ hay khoản nợ chính là một nghĩa vụ tài sản của một bên (bên nợ) đối với một bên khác (chủ nợ). Nghĩa vụ ở đây được hiểu là một quan hệ pháp luật được xác lập giữa hai chủ thể theo đó một chủ thể (chủ thể quyền - người có quyền) có thể yêu cầu chủ thể kia (chủ thể nghĩa vụ - người có nghĩa vụ) phải hoàn thành một yêu cầu nhất định [16, tr. Trước đây, Điều 676 Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936 quy định nghĩa vụ được hiểu là cái dây liên lạc về luật thực tế hay luật thiên nhiên, bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đối với một hay nhiều người nào đó.
Và Điều 641 Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ quy định nghĩa - vụ là mối liên -lạc về luật thực -tế hay luật thiên -nhiên, bó-buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đối với một hay nhiều người nào đó. Sau đó, nhiều người quan niệm nghĩa vụ là mối liên hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó một người là trái chủ (hay chủ nợ) có quyền đòi người kia là người phụ trái (hay con nợ) phải thi hành một cung khoản có thể trị giá bằng tiền [49, tr. Hiện nay, Điều 280 BLDS định nghĩa: Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao 8 z vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền). Định nghĩa này đang được coi là không tiếp cận theo hướng xem xét nghĩa vụ là một mối quan hệ pháp lý mà tiếp cận theo hướng xuất phát từ hành vi của bên phải thực hiện một đối tượng vì lợi ích của người khác.
Đây là cách định nghĩa chưa mang tính khái quát cao bởi nghĩa vụ dân sự là quan hệ có hai loại chủ thể có lợi ích trái ngược nhau, một bên có quyền yêu cầu và bên kia phải thực hiện yêu cầu của bên có quyền [18]. Để quan tâm đầy đủ tới tất cả các khía cạnh của nghĩa vụ, cần lưu ý trong quan hệ nghĩa vụ luôn có hai chủ thể trái ngược nhau về mặt lợi ích là: (i) Một bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ; và (ii) một bên khác (bên có nghĩa vụ) phải thực hiện yêu cầu của bên kia [21, tr. Khi nhìn nhận nợ thực chất là một nghĩa vụ, có thể thấy, nợ cũng mang một số đặc trưng như sau: i) Nợ là một mối quan hệ pháp lý: Nợ là một mối quan hệ pháp lý giữa bên nợ và bên chủ nợ vì nợ có đầy đủ các yếu tố được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nếu bên nợ không tự nguyện thực hiện thì chủ nợ có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc bên nợ phải thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.
Trên thực tế, khi bên nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, chủ nợ có thể thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để yêu cầu bên nợ phải thực hiện, bao gồm cả việc khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên nợ phải trả khoản nợ. Sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu bên nợ tiếp tục không tự nguyện thi hành thì chủ nợ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức cưỡng chế thi hành đối với người bên nợ. ii) Nợ là một quan hệ đối nhân (quyền đối nhân): Nợ là một quan hệ đối nhân vì chủ nợ chỉ có quyền đòi nợ (yêu cầu hoàn trả nợ gốc, nợ lãi…) đối với bên nợ mà không được quyền thi hành trên bất cứ một tài sản cụ thể nào của bên nợ [21, tr. Việc chủ nợ thi hành quyền đòi nợ phải phụ thuộc vào tài sản đã và đang có của bên nợ.
Trên thực tế, nếu thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, chủ nợ thường đòi hỏi bên nợ phải thực hiện biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ. Việc này thể hiện rõ nhất trong 9 z hoạt động cấp tín dụng của TCTD, theo đó, khi cấp tín dụng cho bên vay vốn, TCTD thường yêu cầu bên vay vốn phải có biện pháp bảo đảm cho khoản vay như cầm cố, thế chấp tài sản. Số tiền vay (khoản nợ) mà TCTD chuyển giao cho bên vay vốn thường chỉ bằng 70% giá trị tài sản bảo đảm cho khoản vay. Khi chủ nợ (TCTD) thực hiện quyền đòi nợ mà bên nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng việc trả nợ, thì chủ nợ có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
iii) Nợ là một quan hệ về tài sản: Nợ là một quan hệ về tài sản vì khi bên nợ thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bên nợ phải đưa tài sản của mình cho chủ nợ dẫn đến tình trạng tài sản của bên nợ bị giảm sút. Ngược lại, chủ nợ khi nhận tài sản của bên nợ thì tài sản của chủ nợ tăng lên. Ngoài ra, một điểm đặc biệt trong mối quan hệ giữa chủ nợ và bên nợ là chủ nợ luôn có quyền đòi nợ - một dạng quyền tài sản có thể trị giá được bằng tiền và được lưu thông, trao đổi, mua bán trong các giao dịch dân sự, kinh doanh, thương mại. Khi quyền đòi nợ được lưu thông, mua bán, trao đổi chủ nợ có thể thu hồi lại một khoản tiền như một hoạt động kinh tế.
Giá trị mua bán, trao đổi quyền đòi nợ luôn được xác định bằng một khoản tiền do bên mua nợ thanh toán cho bên bán nợ. Do vậy, nợ luôn thể hiện là một quan hệ về tài sản giữa chủ nợ và bên nợ [18]. Phân loại nợ và khái niệm nợ xấu Phân loại nợ là việc chủ nợ căn cứ vào các tiêu chí định tính, định lượng để đánh giá khả năng trả nợ của bên nợ nhằm xác định mức độ rủi ro, khả năng thu hồi nợ. Sau khi xác định mức độ rủi ro, khả năng thu hồi nợ, chủ nợ sẽ dự liệu, đưa ra phương án để hạn chế rủi ro thông qua việc trích lập dự phòng rủi ro.
Dự phòng rủi ro thực chất là việc chủ nợ đưa tài sản của mình để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do bên nợ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ. Dự phòng rủi ro thường được tính theo các tài sản ban đầu mà chủ nợ chuyển giao cho bên nợ (đối với hoạt động cấp tín dụng chính là dư nợ gốc). Trên thực tế, phân loại nợ thường được áp dụng đối với các khoản nợ phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD. Theo đó, dự phòng cụ thể của TCTD là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ theo quy định của NHNN để dự phòng cho những tổn 10 z thất có thể xảy ra.