phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 02 (hai) chương. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở VÔ HIỆU 1. Khái niệm hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu Với quan niệm “an cư lạc nghiệp”, nhà ở đã trở thành phương tiện sinh hoạt và nhu cầu không thể thiếu của mỗi gia đình. Ở một khía cạnh khác, nhà ở còn tượng trưng cho giá trị văn hóa, bản sắc của một dân tộc.
Khi đời sống, xã hội càng phát triển thì nhà ở càng được con người, xã hội quan tâm. Ở tất cả các quốc gia trên thế giới, nhà ở là đối tượng tham gia vào các giao dịch dân sự nói chung và giao dịch mua bán nhà ở nói riêng. Đối với Việt Nam, quyền về chỗ ở và quyền sở hữu (sau đây gọi tắt là “QSH”) nhà ở của công dân được Nhà nước ghi nhận và bảo hộ; tại Điều 58 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền sở hữu thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở…”; từ quy định hiến định này, những chính sách xã hội và quy định pháp luật về nhà ở qua từng thời kỳ được nhà nước ban hành đã tạo khung pháp lý an toàn, tiện lợi cho người dân tham gia vào các giao dịch nhà ở. QSH nhà ở của công dân có thể được xác lập thông qua hợp đồng mua bán (sau đây gọi tắt là “HĐMB”) nhà ở với những hình thức và thủ tục theo luật định.
Trên cơ sở lý luận về hợp đồng dân sự, căn cứ các quy định về HĐMB nhà tại Chương XVIII mục 1 phần II từ Điều 450 đến Điều 454 BLDS 2005, Luật nhà ở năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là “Luật nhà ở”) thì HĐMB nhà ở thể hiện sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên mua nhà và bên bán nhà có công chứng hoặc chứng thực. Theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao nhà và QSH nhà cho bên mua; bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Bên mua là chủ sở hữu (sau đây gọi tắt là “CSH”) nhà sau khi các bên đã thực hiện các thủ tục mua bán nhà theo quy định của pháp luật. Nhà ở là tài sản có giá trị lớn, để đảm bảo hoạt động quản lý của Nhà nước và duy trì trật tự công cộng; BLDS và Luật nhà ở đã quy định khá chặt chẽ về thủ tục liên quan đến giao dịch mua bán nhà ở.
Theo nguyên tắc chung quy định tại các Điều 4, 5, 6 BLDS 2005 thì HĐMB nhà ở được kết lập trên cơ sở sự tự do bày tỏ ý chí, “bình đẳng”, “thiện chí”, “trung thực” của bên mua và bên bán nhà; không ai được “áp đặt”, “cưỡng ép”, “đe dọa” người khác phải tiến hành ký kết HĐMB nhà ở với mình hoặc với một chủ thể khác. Khi hợp đồng được giao kết hợp pháp sẽ phát sinh “hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên” và các bên “phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết.” 7 Để được pháp luật công nhận và bảo hộ quyền lợi hợp pháp phát sinh từ việc giao kết HĐMB nhà ở, đòi hỏi các chủ thể phải đáp ứng các điều kiện: (i) người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; (ii) mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; (iii) người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; (vi) hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật 1; HĐMB nhà ở phải thể hiện bằng văn bản, có công chứng hoặc chứng thực2. Đây là những yêu cầu pháp lý bắt buộc đối với chủ thể khi xác lập, thực hiện HĐMB nhà ở, nếu không đáp ứng một trong các điều kiện nêu trên thì hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu. Trên phương diện khoa học pháp lý, cho đến nay chưa có văn bản nào đưa ra khái niệm về HĐMB nhà ở vô hiệu.
Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “vô hiệu” được hiểu là “không có hiệu lực, không có hiệu quả”3. Theo khoản 1 Điều 137 BLDS 2005, “giao dịch vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.” Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu như sau: Hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu là hợp đồng không có một trong các điều kiện làm cho hợp đồng mua bán nhà ở hợp pháp; không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của bên bán nhà và bên mua nhà kể từ thời điểm giao kết hợp đồng. Đặc trƣng pháp lý của hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành 1. Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp Áp dụng luật nội dung vào thời điểm xác lập hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài áp dụng các quy định của pháp luật về nhà ở còn phải áp dụng các quy định của pháp luật dân sự theo nguyên tắc, ưu tiên áp dụng luật riêng; nếu luật riêng không có thì mới áp dụng luật chung và áp dụng hướng dẫn từ các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân (sau đây gọi tắt là “TAND”) tối cao. Mỗi thời kỳ lịch sử, pháp luật về HĐMB nhà ở có những quy định khác nhau. Tương ứng với từng lần sửa đổi luật, có thể phân chia 4 giai đoạn như sau: Giai đoạn 1. Đối với giao dịch mua bán nhà ở xác lập trước ngày 01/7/1991 để đảm bảo được ổn định sẽ áp dụng các quy định tại Nghị quyết 58/1998/NQ- UBTVQH ngày 24/8/1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để giải quyết các giao 1 Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005.
2 Điều 450 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 93 Luật nhà ở 2005 (được sửa đổi bổ sung năm 2009). 3 Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 8 dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 và Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/1/1999 của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Đối với giao dịch mua bán nhà ở có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia được xác lập trước ngày 01/7/1991 mục đích để ở, mà nhà ở đó thuộc sở hữu cá nhân hoặc các bên là người Việt Nam định cư ở nước ngoài; khi phát sinh tranh chấp áp dụng Nghị quyết 1037 ngày 27/7/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để giải quyết. Đối với các giao dịch mua bán nhà ở được xác lập từ ngày 01/7/1991 đến trước ngày 01/7/1996 thì áp dụng các quy định của Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 và Pháp lệnh nhà ở 1991 và văn bản pháp luật có liên quan4. Đối với HĐMB nhà ở xác lập từ sau ngày 01/7/1996 đến trước ngày 01/01/2006 thì áp dụng BLDS 1995 và Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình. Đối với HĐMB nhà ở được xác lập từ ngày 01/01/2006 đến nay thì áp dụng BLDS (được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006); Luật nhà ở (được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2006); Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở.
Theo Điều 3 Luật nhà ở, trường hợp BLDS mâu thuẫn với Luật nhà ở thì áp dụng Luật nhà ở để giải quyết. * Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài không có chức năng kinh doanh nhà ở sẽ áp dụng các quy định của Luật nhà ở, Nghị quyết 19 ngày 03/6/2008 của Quốc hội và Nghị định 51/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết 19 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; * Đối với cá nhân, tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở thì áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 125 Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản. Các dạng hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam 4 Theo Điều 4 Nghị quyết số 45 của Quốc hội ngày 28/10/1995 về việc thi hành BLDS 1995, quy định: “Đối với các giao dịch mua bán nhà ở được xác lập từ ngày 01/7/1991 đến trước ngày 01/7/1996 thì được thực hiện theo Pháp lệnh nhà ở 1991 và văn bản pháp luật luật có liên quan”. Chủ thể ký kết hợp đồng mua bán nhà ở không đáp ứng điều kiện về chủ thể Về lý luận, cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào HĐMB nhà ở được gọi là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự đó.
Quyền lợi, nghĩa vụ của các chủ thể sẽ phát sinh khi hợp đồng được giao kết hợp pháp. Nếu pháp luật dân sự của nhiều nước trên thế giới chỉ thừa nhận chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân, thì theo pháp luật Việt Nam hiện hành cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác đều có thể trở thành chủ thể của HĐMB nhà ở khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật này “có năng lực hành vi dân sự”5. Năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi tắt là “NLHVDS”) đối với từng chủ thể (cá nhân, tổ chức) khác nhau, pháp luật có những quy định không giống nhau, cụ thể: * Đối với cá nhân. Đây là chủ thể chủ yếu và thường xuyên của quan hệ mua bán nhà ở.
Để trở thành chủ thể độc lập khi tham gia vào quan hệ HĐMB nhà ở, được pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp, thì cá nhân (bên bán và bên mua) phải có đầy đủ năng lực chủ thể, tức là cá nhân đó phải có đủ năng lực pháp luật dân sự 6 và năng lực hành vi dân sự. NLHVDS là thuộc tính của cá nhân (phụ thuộc vào ý chí, lý trí, độ tuổi, tâm sinh lý…); là khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của chủ thể “bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền nghĩa vụ dân sự”7 khi tham gia HĐMB nhà một cách độc lập.