Trang 1 TOM TAT DE TAI Trong thế giới ngày nay, hội nhập là điều quan trong để nền kinh của một quốc gia phat triển, đặc biệt là hội nhập tài chính. Ở những nước phát triển, hội nhập tài chính đã diễn ra từ lâu và có mức độ sâu rộng. Tại Đông Nam Á, các quốc gia ASEAN bắt đầu rộn ràng với những hoạt động chuân bị cho sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Do đó chúng tôi muốn tìm hiểu ảnh hưởng của hội nhập tài chính đến mức giá của quốc gia liệu có khác nhau hay không nếu xét dưới những chế độ tỷ giá hỗi đoái khác nhau.
Đặc biệt chúng tôi tập trung nghiên cứu cho riêng trường hợp Việt Nam, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về tác động của hội nhập tài chính lên mức giá quốc gia dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nỗi có quản lý hiện tại Việt Nam. Bài nghiên cứu này của chúng tôi thực hiện trên phạm vi gồm 24 quốc gia công nghiệp và đang phát triển, sử dụng mô hình hồi quy Panel-OLS time-fixed effects. Các dữ liệu chúng tôi sử dụng trong bài nghiên cứu là đữ liệu theo năm (từ 1997 đến 2010) được lẫy từ Penn World Tables (PWT) và từ dữ liệu Các Chỉ Số Phát Triển Kinh Tế (WDI) của World Bank, đây là giai đoạn các quốc gia đang phát triển có bước chuyển mình mạnh mẽ về hội nhập tài chính với thế giới. Chúng tôi thấy rằng ở các nước OECD, dưới chế độ tỷ giá hối đoái có định hội nhập tài chính làm tăng mức giá quốc gia, dưới chế độ tỷ giá thả nổi thì hội nhập tài chính làm giảm mức giá quốc gia.
Tuy nhiên đối với các quốc gia đang phát triển và cho riêng trường hợp Việt Nam, chúng tôi thấy rằng dưới chế độ tỷ giá thả nổi thì hội nhập tài chính làm giảm mức giá quốc gia mạnh mẽ hơn so với các quốc gia có chế độ tỷ giá cô định và quản lý. Ngoài ra bài nghiên cứu còn xem xét tác động của nhân tố như GDP bình quân đầu người, mức độ phát triển của hệ thống tài chính nội địa, hay dân số cũng tác động một phần đến mức giá quốc gia: GDP bình quân đầu người càng cao thì sẽ kéo mức giá quốc gia lên, hệ thống tài chính nội địa càng phát triển, dân số càng ít sẽ làm tăng mức giá quốc gia. Bài nghiên cứu của chúng tôi tạo một cách nhìn mới về các sai lệch có hệ thống của ngang giá sức mua tương đương. Bài nghiên cứu này đóng một vai trò quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách ở các quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng vì họ đang bước vào một giai đoạn hội nhập tài chính ở mức độ cao hơn, họ cần phải hiểu rõ về những ảnh hưởng mà hội nhập tài chính có thể mang đến cho nền kinh tế của mình để có thể tận dụng được các lợi ích mà hội nhập tài chính mang đến bằng cách dùng những chính sách vĩ mô thích hợp.
Trang ii MUC LUC PHAN 1: GIOT THIBU.cssccccssssssssssscssssssssccsssssssssscsscsssssssscsesssssssnscscsssssssscsesssssssseceesssssnees 1 PHAN 2: TONG QUAN CAC NGHIEN CỨU TRƯỚC ĐÂY.- 2 PHAN 3: PHUONG PHÁP NGHIÊN CỨU.1 XAy dung m6 himh h6i quy: .2 Cái nhìn đầu tién vé dit Qu: occ csesessesesssscscssesscsessestsstssssvssessaeens 10 3. Thu thập và xử lý đữ liệu:.1 Mức giá của quốc gia (NPL):.2 Hội nhập tài chính quôc tê (FIN).3 Phân loại chế độ tỉ giá hối đoái (FLO).4 Bién ki€M SOat:? oo.4 Két qua kiém djmh Wald: o.cccccccccccscssssssesssessesssecscssecsscssecsecssecsecasecsecsseeses 15 PHẢN 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU.1 Kết quả thực nghiệm chung: .2 Kết quả thực nghiệm cho từng nhóm nước (thuộc OECD và nhóm nước đang 0118:5008 a1.3 Kiểm tra kết quả mô hình cho Việt Nam giai đoạn 1997-2010.2 Hàm ý chính sách cho Việt Nam: .3 Hạn chế và hướng phát triển tiếp theo:.¿--¿-©5¿©5+22x+2z++cxzxxerxrzreerxee 33 Tài liệu tham kkhảO.-- 5< 5° 5< << eeeeEeeereereoreoretretretrererererserererrrrnere 34 Trang iii DANH MUC TU VIET TAT: OECD: Organisation for Economic Co-operation and Development, Té chitc hop tac va phat trién kinh té BS-KL: Hoc thuyét Balassa va Samuelson - Kravis va Lipsey LYS: cach phan loai ty giá hối đoái của Levy-Yeyati và Sturzenegger NHTW: Ngan hang Trung wong OLS: Panel Odinary Least Square, binh phuong bé nhất PPP: suc mua tuong duong PWT: Penn World Tables RR: cách phân loại ty giá hối doai cua Reinhart va Rogoff WDI: Chi sé phat trién kinh tế của World Bank ICP: International Comparison Programme, Chuong trình So sánh Quốc tế của Liên Hiệp Quốc Trang iv DANH SÁCH BẢNG VÀ HÌNH Bảng l: Kết quả hồi quy cho nhóm 24 quốc gia trong mẫu (1997 - 2010). 18 Bảng 2: Kết quả hồi quy cho 12 quốc gia thuộc OECD (1997 - 2010). 21 Bảng 3: Kết quả hồi quy cho 12 quốc gia không thuộc OECD (1997 - 2010).
22 Bảng 4: Kết quả hồi quy cho các nước đang phát triển ở châu Á (1997-2010). 25 Hình 1: Mức giá quốc gia (NPL) đối với hội nhập tài chính (FIN) dưới chế độ tỷ giá cố định và thả nồi theo cách phân loại LYS .---2-¿¿©2+++2x+ecxxerxersrseeee 7 Hình 2: Mức giá quốc gia (NPL) đối với hội nhập tai chinh (FIN) dưới chế độ tỷ giá cố định và thả nổi theo cách phân loại RLR. óc St, 8 Hình 3: Kết quả kiểm định Wald với dữ liệu PWT theo cách phân loại LYS. 16 Hình 4: Kết quả kiểm định Wald với đữ liệu PWT theo cách phân loại RR.
17 Hình 5: Kết quả kiểm định Wald với đữ liệu WDI theo cách phân loại LYS. 17 Hình 6: Kết quả kiểm định Wald với đữ liệu PWT theo cách phân loại RR. 17 Hình 7: Kết quả hồi quy cho Việt Nam sử dụng dữ liệu WDI (1997-2010). 27 Hình 8: Kết quả hồi quy cho Việt Nam sử dụng dữ liệu PWT (1997-2010).
28 Trang | PHAN 1: GIỚI THIỆU Hội nhập tài chính ngày nay đã trở thành một xu hướng phổ biến ở tất cả các khu vực trên thế giới. Tăng cường hội nhập khu vực, đặc biệt là khu vực các quốc gia đang phát triển sẽ giúp nền kinh tế của quốc gia phát triển tốt hơn trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn tiếp tục biến động, đồng thời cũng giúp các quốc gia thành viên có một vị thế vững vàng hơn trước những biến động đang diễn ra của nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, hội nhập tài chính cũng mang lại những thách thức không nhỏ. Một trong số những thách thức đó là việc sử dụng biện pháp phòng ngừa chống lại những tổn thất tiêu dùng ở một thị trường có hội nhập tài chính sẽ được phản ánh bởi những điều chỉnh giá tương đối tự biểu hiện trong những thay đổi về mặt bằng giá trong nước và hướng điều chỉnh giá tương đối này phụ thuộc vào việc phòng ngừa được sử dụng dưới chế độ tỷ giá hối đoái nào.
Vậy, làm thế nào mà hội nhập tài chính đang diễn ra lại có thê ảnh hưởng đến mức giá quốc gia? Và chính sách tỷ giá hối đoái đóng vai trò gì trong quá trình này? Những bằng chứng thực nghiệm nhằm làm rõ cho vấn đề này hiện nay vẫn còn rất mơ hồ. Chính vì thế mà chúng tôi quyết định thực hiện bài nghiên cứu này dựa trên một kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở các nước OECD và các nước đang phát triển. Bằng cách sử dụng mô hình OLS kết hợp với các phương pháp kiêm định khác nhau, chúng tôi tiến hành đánh giá tác động của hội nhập tài chính lên mức của giá của quốc gia dưới những chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau. Mức giá của quốc gia — theo định nghĩa của hai tac gia Mathias Hoffmann va Peter Tillmann (2012) — là chỉ số PPP của quốc gia đó chia cho tỉ giá hối đoái giữa đồng tiền của quốc gia dé va dollar My.
Từ những kết quả ước lượng, chúng tôi đánh giá được mức độ mà mức giá của một quốc gia bị tác động khi có hội nhập tài chính ở các quốc gia OECD và các quốc gia đang phát triển, đồng thời xem xét vai trò của những chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau trong quá trình tác động. Chúng tôi hy vọng kết quả tìm được có thể giúp ích cho những nhà hoạch định chính sách, cũng như là NHNN có những chính sách về tỷ gid héi đoái thích hợp để đạt được một mức giá mà quốc gia mong muốn trong bối cảnh hội nhập tài chính. Trang 2 PHAN 2: TONG QUAN CAC NGHIEN CUU TRUOC DAY Các tranh luận trước đây về kết quả của toàn cầu hóa chủ yếu tập trung xem xét tác động của hội nhập thương mại lên lạm phát. Các nghiên cứu của Bernanke (2007); Borio và Filardo (2007) cho thấy rằng gia tăng hội nhập thị trường hàng hóa dẫn đến cạnh tranh càng trở nên gay gắt, sản lượng càng được phân bổ hiệu quả hơn và tác động kỷ luật lên các nhà hoạch định chính sách.
Nguyên nhân là do toàn cầu hóa ảnh hưởng đến lạm phát thông qua việc thay đổi các yếu tố xác định tỷ lệ lạm phát trong nước. Thị trường trong nước ngày càng trở nên hội nhập và mở cửa đã dẫn đến giá cả linh hoạt hơn; người bán hàng hóa, dịch vụ và nhân công có thể phải đối mặt với cạnh tranh nhiều hơn và có sức mạnh thị trường ít hơn so với khi trước. Do đó, giá cả và tiền lương không chỉ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế tại nước nhà mà còn có thê phụ thuộc vào điều kiện kinh tế nước ngoài. Mối quan hệ này cho thấy, ít nhất là trong ngắn hạn, toàn cầu hóa và thương mại có thể ảnh hưởng đến quá trình lạm phát trong nước.
Đối với các nước phát triển, mở rộng thương mại có thể khiến cho lạm phát trong nước phụ thuộc nhiều hơn vào giá hàng hóa nhập khẩu, điều này xảy ra không chỉ vì hàng hóa nhập khẩu có trong giỏ hàng hóa tiêu dùng hay trong trường hợp bán thành phâm và hàng hóa được sản xuất trong nước nhưng phải nhập khẩu nguyên vật liệu gây ảnh hưởng đến chỉ phí sản xuất trong nước, mà còn vì cạnh tranh với hàng nhập khẩu ảnh hưởng đến quyền định giá (sức mạnh giá) của các nhà sản xuất trong nước. Nền kinh tế thị trường mới nỗi có chỉ phí thấp, điều này giúp giữ giá của hàng nhập khẩu giảm, giá nhập khẩu thấp hơn buộc doanh nghiệp trong nước cạnh tranh để kiềm chế giá cả của họ. Giá hàng hóa nhập khẩu nhìn chung tăng với tốc độ chậm hơn so với giá các sản phâm tiêu dùng khác, điều này dẫn đến việc làm chậm tốc độ lạm phát tổng thể.