Mở đầu, nội dung và kết luận. Trong đó, phần nội dung gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) và hoạt động tín dụng bán lẻ tại các NHTM Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chƣơng 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI (NHTM) VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 1. Khái quát về NHTM 1. Khái niệm và đặc điểm của NHTM NHTM(NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trƣờng ở các nƣớc.
Có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM: Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thƣờng xuyên nhận của công chúng dƣới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tƣ. Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thƣờng xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán.
Theo luật Các tổ chức tín dụng số 47 năm 2010 thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng”. “NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận". 5 Nhƣ vậy NHTM làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay qua đó thu lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ tài chính, mặc dù giữa NHTM và các tổ chức tài chính trung gian khác rất khó phân biệt sự khác nhau, nhƣng ngƣời ta vẫn phải tách NHTM ra thành một nhóm riêng vì những lý do rất đặc biệt của nó nhƣ tổng tài sản có của NHTM luôn là khối lƣợng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng, hơn nữa khối lƣợng séc hay tài khoản gửi không kì hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế. Cho thấy NHTM có vị trí rất quan trọng trong hệ thống ngân hàng cũng nhƣ trong nền kinh tế quốc dân.
Đặc điểm của NHTM: - Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính, tín dụng. - Hoạt động kinh doanh của NHTM đƣợc phân vào nhóm hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao. - Sự tồn tại và phát triển của NHTM phụ thuộc rất lớn vào sự tín nhiệm của khách hàng. - Giữa các NHTM có tác động trực tiếp, ảnh hƣởng dây chuyền với nhau.
Hoạt động tín dụng của NHTM Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, hoạt động tín dụng đƣợc định nghĩa là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. 6 Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản có của các NHTM, do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Có rất nhiều cách phân loại hoạt động tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên ngƣời ta thƣờng phân loại theo một số tiêu thức sau: - Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng đƣợc phân thành 3 loại sau: + Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dƣới một năm, thƣờng đƣợc sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân.
+ Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, đƣợc dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. + Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đƣợc sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Thƣờng thì tín dụng trung và dài hạn đƣợc đầu tƣ để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất. - Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại: + Tín dụng sản xuất và lƣu thông hàng hoá: là loại tín dụng đƣợc cung cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh.
7 + Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng đƣợc cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thƣờng đƣợc dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình. Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hƣớng tăng lên. - Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau: + Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tƣơng đƣơng thế chấp, có các hình thức nhƣ: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh.
+ Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thƣờng đƣợc áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng nhƣ trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ. Trong nền kinh tế thị trƣờng việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tƣơng đối. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết.
Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng. Hoạt động tín dụng bán lẻ tại các NHTM Việt Nam 1. Khái niệm và đặc trƣng của tín dụng bán lẻ 1. Khái niệm 8 Tín dụng là một trong những dịch vụ ngân hàng ra đời sớm và lâu đời nhất cho đến nay.
Đối với thị trƣờng tín dụng, ở các nƣớc trên thế giới có hai quan niệm và cách phân định khác nhau. Thứ nhất, tín dụng bán buôn đƣợc hiểu là tất cả các khoản cho vay thông qua thị trƣờng tiền tệ liên ngân hàng, cho vay giữa các trung gian tài chính (các NHTM, quỹ, các tổ chức làm đại lý ủy thác, thí dụ tổ chức tài chính vi mô), không tính đến quy mô giá trị khoản vay. Trong khi đó, tín dụng bán lẻ bao gồm những khoản cho trực tiếp đến ngƣời vay cuối cùng với các khoản cho vay có quy mô giá trị khác nhau. Ngƣời vay cuối cùng ở đây không phân biệt theo quy mô lớn hay nhỏ mà chủ yếu đƣợc xác định bởi là ngƣời trực tiếp sử dụng vốn vay đƣa vào đầu tƣ, không thực hiện việc cho vay tiếp tới các đối tƣợng khác; Thứ hai, tín dụng bán buôn là hình thức cho vay bao gồm các khoản vay thuộc hình thức thứ nhất, cộng thêm những khoản cho vay có giá trị lớn hơn một quy mô nào đó tùy theo quy định cụ thể của từng nƣớc.
Thí dụ, ở nƣớc Anh, những khoản vay có giá trị từ 50.000 bảng Anh trở lên đƣợc coi là khoản cho vay bán buôn; Tín dụng bán lẻ theo cách hiểu thứ hai này bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến các ngƣời vay cuối cùng là các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ và vừa, cộng thêm các khoản cho vay đối với những công ty và doanh nghiệp lớn (doanh nghiệp nhà nƣớc, các tập đoàn kinh tế,…) nhƣng có quy mô nhỏ hơn một mức giá trị nào đấy. Thí dụ ở nƣớc Anh là các khoản vay có giá trị dƣới 50. Bên cạnh đó, cần lƣu ý thêm rằng, những tiêu chí phân định giữa bán buôn, bán lẻ nêu trên chỉ là tƣơng đối và không mang tính phổ biến đối với mọi quốc gia và không phải là bất biến qua mọi giai đoạn phát triển mà chủ yếu tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng nhƣ mục đích quản lý ở từng nƣớc. Ở nƣớc 9 ta, việc đi sâu tìm hiểu nội dung khái niệm và sử dụng các mô hình tín dụng bán buôn, tín dụng bán lẻ, nói riêng mới đƣợc quan tâm trong vài thập kỷ gần đây.
Điều này có nhiều lý do, trong đó có lý do lịch sử, vì trong một thời gian dài trƣớc thời kỳ đổi mới, các dịch vụ phi tín dụng chƣa phát triển. Trong hoạt động tín dụng thì chủ yếu chỉ cho vay doanh nghiệp Nhà nƣớc, cho vay tiêu dùng của cá nhân, cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà phần lớn là các doanh nghiệp tƣ nhân, dân doanh thì hầu nhƣ chƣa có trong các giai đoạn đó. Tuy nhiên, trên cơ sở xem xét, tiếp thu có chọn lọc, có sự hiểu biết phù hợp với thông lệ chung hiện nay, cần và nên hiểu thống nhất lựa chọn khái niệm tín dụng bán buôn ở nƣớc ta hiện nay và trong thời gian tới theo cách hiểu thứ hai nêu trên. Đó là những hình thức cho vay tín dụng đối với các đối tƣợng vay là các trung gian tài chính, các doanh nghiệp lớn (ngoại trừ những khoản nhỏ lẻ, tuy cho vay doanh nghiệp lớn nhƣng nên đƣợc coi là khoản cho vay bán lẻ).
Còn tín dụng bán lẻ là những hình thức và các khoản cho vay trực tiếp đến các ngƣời vay cuối cùng, chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa.