Đặt vấn đề BĐKH đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia trên thế giới với những diễn biến hết sức phức tạp như sự nóng lên của Trái Đất, kéo theo băng tan, nước biển dâng cao, mưa bão, lũ lụt, cho đến các thiên tai có khả năng gây tàn phá quy mô lớn như động đất, sóng thần, hạn hán… Tất cả góp phần gây nên hậu quả là tình trạng thiếu lương thực và hàng loạt dịch bệnh ở con người và vật nuôi. Theo Ủy ban liên chính phủ về BĐKH định nghĩa: “ BĐKH là những thay đổi của theo thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm cả những biến đổi do các hoạt động của con người gây ra. BĐKH xuất phát từ những thay đổi cán cân năng lượng của trái đất do thay đổi nông độ các khí nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển, thảm phủ và lượng bức xạ mặt trời”. [6] Ở Việt Nam với vị trí địa lí bờ biển dài 3260 km, tiếp giáp với biển Đông đang là một trong số những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ BĐKH.
Trong những năm gần đây, nước ta chịu tác động xấu của nhiều loại thời tiết cực đoan như giá rét kỷ lục tại miền Bắc khiến mùa màng thất bát, trâu bò chết hàng loạt, lũ lụt ở miền Trung xảy ra với tần suất nhiều và mức độ nghiêm trọng lớn cuốn trôi đi rất nhiều ngôi nhà và làm ngập úng hàng ngàn ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, còn ở miền Nam thì xâm nhập mặn cũng khiến hàng ngàn ha đất trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long không thể trồng, triều cường dâng cao làm ngập đường khiến cho giao thông đi lại khó khăn. Tất cả các tác động đó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người nông dân khiến cho họ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn đặc biệt ngành nông nghiệp. Trong khi đó, người dân nông thôn đặc biệt là các hộ DTTS chủ yếu sống phụ thuộc vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính, khi mà nông nghiệp bị ảnh hưởng thì họ cần có những cách ứng phó cho phù hợp để vẫn có thể tiếp tục sản xuất có hiệu quả và tìm ra những hoạt động sinh kế mới cho phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu hiện nay. h 2 Bắc Kạn là một tỉnh thuộc miền núi phía Bắc của nước ta, đây là một trong những vùng chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất từ BĐKH đem lại.
Bắc Kạn hiện có dân số trên 308.300 người, gồm 7 dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay; trong đó DTTS chiếm trên 80%. Mỗi dân tộc lại có một bản sắc văn hóa và phong tục riêng, cũng như có những tập quán canh tác của từng dân tộc. Bình Văn là một xã vùng cao thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Xã Bình Văn chủ yếu người dân là người DTTS, trong những năm gần đây Bình Văn là một trong những xã chịu tác động nặng nề từ các loại thời tiết cực đoan như giá rét, xuất hiện nắng nóng kỷ lục gây hạn hán, sâu bệnh hại cây trồng,… làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của người dân.
Vì vậy cần phải có những nghiên cứu về cách ứng phó kịp thời của người DTTS tại đây đối với việc BĐKH. Xuất phát từ lý do đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Hoạt động sinh kế của hộ dân tộc thiểu số xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá được thực trạng về những tác động của BĐKH đến đời sống và các hoạt động sản xuất của các hộ dân tộc thiểu số tại xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
Từ đó, đề xuất một số giải pháp để hạn chế được những tác động tiêu cực của BĐKH và đưa ra những hoạt động sinh kế phù hợp với các hộ dân tộc thiểu số tại địa phương trong bối cảnh BĐKH. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế và BĐKH - Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên, KT-XH xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn - Thống kê được diễn biến BĐKH tại xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn - Đánh giá được thực trạng hoạt động sinh kế hộ dân tộc thiểu số tại xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn - Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên có thể vận dụng được các kiến thức đã học vào trong thực tiễn.
- Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Khóa luận được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương nhằm giải quyết vấn đề sinh kế của người dân trong biến đổi khí hậu. - Đánh giá được đúng thực trạng về hoạt động sinh kế của người dân khi chịu ảnh hưởng của BĐKH. - Đưa ra được định hướng phát triển các hoạt động sinh kế thông qua nghiên cứu thực tiễn tại địa phương.
h 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Một số vấn đề cơ bản về biến đổi khí hậu 2. Khái niệm khí hậu, thời tiết, BĐKH Khái niệm khí hậu: là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó, trong phạm vi một tỉnh, một nước, một châu lục, hoặc trên phạm vi toàn cầu trên cơ sở một chuỗi dữ liệu dài (khoảng 30 năm trở lên). [16] Khái niệm thời tiết: là trạng thái khí quyển tại một thời điểm nhất định, được xác định bằng tổ hợp các yếu tố như: Nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ, gió, mưa.
Các hiện tượng nắng, gió, mưa, mây, nóng, lạnh…thường thay đổi nhanh chóng qua từng ngày, từng tháng, từng năm. Thời tiết có thể dự báo được hàng ngày, hàng giờ, hay dài hơn đến một tuần.[7] Khái niệm BĐKH: - Theo công ước chung của Liên Hợp Quốc về BĐKH: “ BĐKH là những ảnh hưởng có hại của thay đổi khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe hoặc phúc lợi của con người. [8] - Theo Ủy ban liên chính phủ về BĐKH: “ BĐKH là những thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm cả những biến đổi do các hoạt động của con người gây ra. BĐKH xuất phát từ những thay đổi cán cân năng lượng của trái đất do thay đổi nồng độ các khí nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển, thảm phủ và lượng bức xạ mặt trời” (IPCC,2007).
[11] - BĐKH là sự biến đổi của trạng thái khí hậu do các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của con người gây ra sự thay đổi thành phần của khí hậu quyển toàn cầu và nó đươc thêm vào sự BĐKH tự nhiên quan sát được trong các thời kỳ có thể so sánh được. Nguyên nhân BĐKH * Nguyên nhân do tự nhiên - Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên gồm thay đổi cường độ ánh sáng của mặt trời, xuất hiện các điểm đen mặt trời (sunsports), các hoạt động núi lửa, thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của trái đất. - Có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng góp một phần nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kỳ kể từ quá khứ đến hiện tại. Theo các kết quả nghiên cứu và công bố từ Uỷ Ban Liên Chính Phủ về BĐKH thì nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu là do các hoạt động con người.
[9] * Nguyên nhân do các hoạt động con người - Đã có các nghiên cứu chuyên sâu chứng minh rằng nhiệt độ trái đất tăng lên nhanh chóng hơn nửa thế kỷ qua chủ yếu do các hoạt động của con người, chẳng hạn như việc đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ,vv) phục vụ các hoạt động công nghiệp , giao thông vận tải,…và thay đổi mục đích sử dụng đất (thay đổi albedo bề mặt đất) bao gồm thay đổi trong nông nghiệp và nạn phá rừng. Ngoài ra các hoạt động khác như đốt sinh khối, sản phẩm sau thu hoạch. - Các khám phá liên quan đến nguyên nhân gây ra BĐKH do hoạt động của con người như: Sử dụng thái quá nguyên liệu hóa thạch, sử dụng phân bón, các loại hóa chất bảo vệ thực vật và sinh hoạt, thuốc trừ sâu, khai thác sử dụng đất, rừng, chưn nuôi gia súc, khai thác và sử dụng tài nguyên nước. Biểu hiện của BĐKH BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21, đã và đang gây ra những biến đổi mạnh mẽ thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường, điển hình như: + Nhiệt độ trung bình tăng: Theo Thông báo quốc gia lần thứ 2 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Kể từ năm 1958 đến năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng 0,5-0,7 độ C.
Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam. Cụ thể như năm 2007, nhiệt độ trung bình cả năm tại Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng h 6 đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931-1940 là 0,8-1,3 độ C; cao hơn thập kỷ 1990- 2000 là 0,4-0,5 độ C. + Lượng mưa thay đổi: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trên lãnh thổ nước ta không rõ rệt theo các thời kỳ và các vùng khác nhau. Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam.
Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa trong 50 năm qua đã giảm khoảng 2%. Tuy vậy, biến đổi lượng mưa có xu hướng cực đoan, đó là tăng trong mùa mưa và giảm mạnh trong mùa khô. + Bão mạnh, mưa lớn, hạn hán, lũ lụt… + Mực nước biển dâng lên do sự tan băng của hai cực trái đất: mực nước biển dâng đã và đang gây ngập lụt trên diện rộng, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế-xã hội trong tương lai… + Thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn…) đều tăng cả về tăng cường độ và tần suất.