Chương 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE HOAT ĐỘNG CUA THỪA PHAT LAI TRONG THI HANH AN DAN SU 1. Thừa phat lại và van dé xã hội hóa thi hành án dân sự Theo từ dién tiếng Việt thì “xã hội hóa” có nghĩa là “làm cho trở thành chung của xã hội”. Xã hội hóa hoạt động của các cơ quan nhà nước là việc chuyên một số công việc hoặc toàn bộ công việc mà các cơ quan nhà nước đang thực hiện cho tô chức, cá nhân khác đảm nhiệm. Xã hội hóa như là một giải pháp cải cách tô chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, tăng cường trách nhiệm và sự tham gia của đông đảo nhân dân mà trọng tâm là chuyên những công việc không cần thiết phải do Nhà nước trực tiếp thực hiện cho xã hội.
Theo đó, có thé hiểu rằng, xã hội hóa thi hành án dân sự là làm cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án trở thành công việc chung của xã hội, bao gồm sự chuyền giao cho các tổ chức tư nhân thực hiện công tác thi hành án cũng như khuyến khích sự tự nguyện thi hành án của các bên đương sự. Trong xu hướng phát triển, xã hội hóa một số hoạt động thi hành án dân sự là một lựa chọn cần được ưu tiên, đến một giai đoạn phát triển nhất định sẽ xóa bỏ bao cấp của Nhà nước đối với hoạt động này. Ngoài ra, xã hội hóa còn nhằm nâng cao trách nhiệm, tạo điều kiện cho người dân, xã hội tham gia vào hoạt động tư pháp, người dân có quyền lựa chọn tô chức thi hành án cho mình, việc cạnh tranh sẽ làm tăng chất lượng dịch vụ; qua đó, đòi hỏi các Cơ quan Thi hành án của Nhà nước phải tự nâng mình lên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao và phức tạp của công tác thi hành án, đổi mới phong cách, lề lối làm việc, khắc phục quan liêu, sách nhiễu, tiêu cực trong thi hành án; các bản án, quyết định của Tòa án sẽ được thi hành một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn. Ở Việt Nam, việc xã hội hóa công tác thi hành án dân sự và phát triển tổ chức Thừa phát lại đã và đang được Đảng, Nhà nước quan tâm và triển ? Xem: Từ điển tiếng Việt (1998), Nxb.
khai trong thời gian qua. Chế định Thừa phát lại được xây dựng, đồng nghĩa với việc một số công việc về thi hành án do Cơ quan Thị hành án dân sự thực hiện được chuyên giao cho tô chức tư nhân thực hiện, qua đó khắc phục được sự quan liêu, rườm rà về thủ tục và khắc phục xu hướng lạm quyên từ người được trao quyền lực đồng thời khuyến khích việc tự thi hành án từ phía người phải thi hành án và người được thi hành án. Vai trò của Thừa phát lại ngày càng được khang định, góp phan bảo đảm quyên và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tô chức trong đời sống dân sự, trong quan hệ với cơ quan nhà nước và trong các quá trình tố tụng, giúp giảm tải công việc cho Cơ quan Thi hành án dân sự, tạo điều kiện để hoạt động tư pháp đúng pháp luật, nhanh hơn, hiệu quả hon, qua đó góp phan cải cách hành chính quốc gia, nhất là trong lĩnh vực cải cách tư pháp. Chức danh Thừa phát lại đã có lịch sử hình thành từ thời Pháp thuộc và tồn tại ở miền nam Việt Nam cho đến trước năm 1975.
Trước đây, Thừa phát lại ở nước ta được gọi theo những tên gọi khác nhau theo từng miền, như: Chưởng tòa (Miền Bắc), M6 tòa (Miền Trung), và Thừa phat lại (miền Nam). Mặc dù có nhiều cách gọi khác nhau nhưng đều có nhiệm vụ chính là thông báo khai mac và bé mac phiên tòa; thực hiện tống đạt các giấy tờ theo yêu cầu cua Tòa án, thi hành án có hiệu lực pháp luật, triệu tập đương sự hoặc lập vi bằng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, từ sau năm 1975, chế định này không còn tôn tại, mới được Nhà nước ta khôi phục trong những năm gần đây và bắt đầu thực hiện thí điểm từ năm 2009 va được đưa vào triển khai thực hiện chính thức từ ngày 01/01/2016. Thừa phát lại là một từ Hán - Việt: “Thừa” có nghĩa là thừa ủy quyền, thừa lệnh (nguyên nghĩa là chuyển tải); “phát” nghĩa là phát ra, đưa đến; “lại” là một viên chức thực hiện lệnh của quan.
Như vậy có thể hiểu Thừa phát lại là viên chức được quan trao lệnh giữ việc báo tin và thi hành các quyết định của quan. Còn theo quy định của pháp luật hiện hành mà cụ thể là Nghị định 61/2009/NĐ-CP: "Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm dé làm các công việc về thi hành án dân sự, tong đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan". Theo đó Thừa phát lại được tham gia những công việc mang tính chất hỗ trợ Cơ quan Thi hành án dân sự tống đạt các văn bản giấy tờ và các hoạt động thi hành án. Theo quy định trên, có thể thấy Thừa phát lại mang các đặc điểm cơ bản sau: - Một là, Thừa phát lại là người đạt đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được Nhà nước bồ nhiệm và trao quyền dé thực hiện một số công việc theo quy định của pháp luật; - Hai là, Thừa phát lại là người hành nghề tự do, không phải là công chức, không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, hoạt động không theo chế độ công vụ nhưng khi thực hiện một sỐ công việc nhất định lại có quyền như những cán bộ, công chức Nhà nước khi được giao thực hiện một sé công viéc; - Ba là, Thừa phat lai thực hiện các công việc liên quan đến hoạt động thi hành án, chủ yếu là: tống đạt văn bản, giấy tờ và thi hành án; - Bốn là, Thừa phát lại hoạt động phải tuân thủ những nguyên tắc về quy chế hoạt động, đạo đức nghề nghiệp mà pháp luật quy định, chịu sự kiếm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước có thâm quyên.
Có thé thay răng, Thừa phát lại giống Chấp hành viên trong Cơ quan Thi hành án dân sự ở đặc điểm hai chức danh này đều do Nhà nước bồ nhiệm và thực hiện một số công việc như: trực tiếp thi hành bản án, xác minh điều kiện thi hành án. Tuy nhiên, Thừa phát lại không phải là công chức Nhà nước, họ làm việc và được hưởng thi lao và phí tốn theo giá biéu do Nhà nước quy định và hợp đồng ký kết với khách hàng: còn Chấp hành viên là công chức, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và phải thực hiện công việc theo quy định về chế độ công chức, công vụ. Trong công việc, Thừa phát lại và Chấp hành viên có mối quan hệ hỗ trợ lan nhau, điêu này thê hiện trên một sô mặt cơ bản như sau: - Thừa phát lại hỗ trợ cơ quan thi hành án nói chung và Chấp hành viên nói riêng trong việc tống đạt các văn bản, giấy tờ, tài liệu, bao gồm: Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án, quyết định trong trường hợp xét xử vắng mặt đương sự của Tòa án; quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập của Cơ quan Thi hành án dân sự. Trong trường hợp cần thiết, trên cơ sở đề nghị của Tòa án, Cơ quan Thi hành án dân sự, Văn phòng Thừa phát lại có thé thỏa thuận dé tống đạt các loại văn bản, giấy tờ khác.
- Thừa phát lại hỗ trợ Chấp hành viên thông qua kết quả xác minh điều kiện thi hành án làm cơ sở dé Chấp hành viên tô chức thi hành bản án. - Thừa phát lại trực tiếp thi hành các bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự: Việc cho phép Thừa phát lại trực tiếp thi hành các bản án là nhằm giúp giảm tải công việc cho Chấp hành viên, hạn chế tình trạng án tồn đọng kéo dài không được thi hành. Đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng khi cho thực hiện chế định Thừa phát lai. Cơ sở khoa học cho việc triển khai hoạt động Thừa phat lại trong thi hành án dân sự tại Việt Nam 1.
Cơ sở lý luận Thị hành án dân sự là một loại hoạt động của Nhà nước nhằm đưa bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thực hiện trên thực tế, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tô chức, công dân, góp phần giữ vững kỷ cương, phép nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, thi hành án dân sự đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án nói riêng và hoạt động tư pháp nói chung. Ở nước ta, hoạt động thi hành án dân sự đã được hết sức chú trọng từ những năm 1946, trải qua quá trình hình thành và phát triển, công tác thi hành án dân sự ngày càng tiễn bộ và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh nên kinh tế thị trường ở nước ta ngày càng phát triển, các 3 Vũ Hoài Nam (2013), 7:6 chức và hoạt động của thừa phát lại ở Việt Nam, Nxb.
Tư pháp -10- quan hệ giao lưu dân sự ngày càng phức tạp, đa dang; bên cạnh đó là sự hội nhập mạnh mẽ vào thế giới, khu vực thì công tác tư pháp nói chung và công tác thi hành án dân sự nói riêng còn bộc lộ nhiều yếu kém, dẫn tới quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án không được bảo đảm, việc thi hành án bị kéo dài, lượng án ton dong lớn. Vi vay, dé dap ứng và phục vụ đắc lực cho công cuộc đôi mới đất nước, yêu cầu đặt ra là phải cải cách mạnh mẽ nền hành chính, nền tư pháp nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nền hành chính - tư pháp vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. Do đó, đây mạnh xã hội hóa tư pháp nói chung và một số nội dung của hoạt động thi hành án được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm”. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng chủ trương tiếp tục day mạnh xã hội hóa trong nhiều lĩnh vực.
Đối với hoạt động tư pháp, Nghị quyết đã chỉ rõ: Cải cách hệ thống tư pháp. Nâng cao việc giám sát của nhân dân đối với các cơ quan Nhà nước. Hỗ trợ và khuyến khích các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân.