Tổng quan nghiên cứu

Dịch bệnh HIV/AIDS là một trong những thách thức an ninh phi truyền thống nghiêm trọng nhất đối với nhân loại. Theo số liệu từ Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), toàn cầu đã ghi nhận gần 78 triệu người nhiễm HIV và khoảng 39 triệu ca tử vong do các nguyên nhân liên quan đến AIDS. Tại Việt Nam, kể từ ca nhiễm đầu tiên được phát hiện vào năm 1990, đại dịch đã nhanh chóng lan rộng và tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực tiễn nguồn lực nội tại của Việt Nam trong giai đoạn đầu còn nhiều hạn chế về kinh phí, trang thiết bị và kinh nghiệm điều trị. Trong giai đoạn 2003 – 2005, nguồn ngân sách tài trợ từ các tổ chức quốc tế chiếm tới 71% – 78% tổng chi phí cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS quốc gia. Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích, làm rõ vai trò, đánh giá toàn diện các thế mạnh và hạn chế trong hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (TCPCP), đặc biệt là các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (TCPCPNN) tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012.

Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát các dự án can thiệp trên 50 tỉnh, thành phố, với trọng tâm tại các địa bàn trọng điểm như Bắc Kạn, Hải Dương và Hà Nội. Về mặt ý nghĩa, nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để đánh giá hiệu quả của 2.609 triệu USD viện trợ phi chính phủ đã giải ngân trong 11 năm (2003 – 2013). Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện chính sách đối ngoại nhân dân, tối ưu hóa mô hình phối hợp giữa Nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm thực hiện thành công Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết về các chủ thể phi nhà nước trong quan hệ quốc tế hiện đại, dựa trên nền tảng nghiên cứu của các học giả David Lewis và James Rosenau, nhằm phân tích sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự vào quản trị toàn cầu. Nghiên cứu đồng thời áp dụng mô hình quan hệ ba bên giữa Chính phủ, Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức phi chính phủ trong quá trình tham vấn chính sách và thực thi dự án phát triển.

Về mặt khái niệm, tác giả làm rõ bản chất của tổ chức phi chính phủ theo Điều 71 Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1949 và khung phân loại của Ngân hàng Thế giới, bao gồm hai nhánh chức năng chính: tổ chức thực thi (operational NGOs) và tổ chức vận động chính sách (advocacy NGOs). Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được chuẩn hóa gồm: can thiệp giảm tác hại, nhóm dựa vào cộng đồng (CBO), giáo dục viên đồng đẳng (GDVĐĐ) và an ninh phi truyền thống. Khung pháp lý tại Việt Nam được hệ thống hóa qua Nghị định số 88/2003/NĐ-CP và Nghị định số 148/2007/NĐ-CP, làm rõ vai trò của hơn 400 hội cấp toàn quốc và 6.500 hội cấp địa phương trong việc tham gia giải quyết các vấn đề y tế công cộng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước, báo cáo tổng kết của Cục Phòng chống HIV/AIDS (VAAC) trực thuộc Bộ Y tế, Ban Điều phối Viện trợ Nhân dân (PACCOM), cùng cơ sở dữ liệu dịch tễ học của UNAIDS và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu chuyên gia tại 4 tổ chức quốc tế lớn có thâm niên hoạt động tại Việt Nam gồm APHEDA, World Vision, ChildFund và CARE International. Đồng thời, tác giả tổ chức thảo luận nhóm tập trung tại 2 địa bàn đại diện là tỉnh miền núi Bắc Kạn và tỉnh đồng bằng Hải Dương với sự tham gia của hơn 30 thành viên thuộc các nhóm cộng đồng người có HIV. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm tiếp cận chính xác các nhóm đối tượng đích có nguy cơ cao như người tiêm chích ma túy và phụ nữ bán dâm.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc tích hợp phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử xuyên suốt timeline 12 năm (2000 – 2012) cùng phương pháp phân tích định tính kết hợp định lượng giúp tác giả đánh giá đa chiều cả về quy mô giải ngân tài chính lẫn chất lượng thay đổi hành vi xã hội, đảm bảo độ tin cậy và giá trị học thuật cao cho luận văn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô và nguồn lực tài chính của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam. Số lượng TCPCP tăng 75,9%, từ 540 tổ chức năm 2003 lên 950 tổ chức năm 2012. Tổng giá trị viện trợ giải ngân hàng năm tăng từ 102 triệu USD năm 2003 lên mức đỉnh 314 triệu USD năm 2012, nâng tổng mức viện trợ lũy kế giai đoạn 2003 – 2013 lên tới 2.609 triệu USD.

Thứ hai, cơ cấu viện trợ ghi nhận sự ưu tiên vượt trội cho lĩnh vực y tế. Lĩnh vực y tế chiếm tỷ trọng lớn nhất với 34% tổng giá trị viện trợ (đạt trên 800 triệu USD), cao hơn đáng kể so với các lĩnh vực giải quyết vấn đề xã hội (21% – hơn 500 triệu USD), phát triển kinh tế (19% – hơn 450 triệu USD) và giáo dục đào tạo (15% – 350 triệu USD).

Thứ ba, độ bao phủ chương trình can thiệp đạt bước tiến mạnh mẽ khi có tới 78,1% số tỉnh thành (50 trên tổng số 64 tỉnh, thành phố tính đến cuối năm 2005) triển khai các dự án phòng, chống HIV/AIDS với sự tài trợ của quốc tế. Mạng lưới này đã phân phối hàng triệu bao cao su, bơm kim tiêm sạch và mở rộng độ bao phủ điều trị kháng retrovirus (ARV).

Thứ tư, các tổ chức quốc tế như FHI, Quỹ PEPFAR, CARE và APHEDA đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ kỹ thuật xây dựng Luật Phòng, chống HIV/AIDS năm 2006, đồng thời thí điểm thành công các mô hình chống kỳ thị phân biệt đối xử tại cơ sở.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự thành công của các TCPCP là sự cởi mở trong đường lối đối ngoại nhân dân của Đảng và Nhà nước, được cụ thể hóa sau khi thành lập Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS, ma túy và mại dâm vào tháng 6 năm 2000 theo Quyết định số 61/2000/QĐ-TTg. Cơ chế này đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho các nguồn lực quốc tế tiếp cận trực tiếp các nhóm đích dễ bị tổn thương mà hệ thống y tế công lập thời điểm đó chưa bao phủ hết.

So sánh với bức tranh toàn cầu, xu hướng kiểm soát dịch tại Việt Nam hoàn toàn tương đồng với báo cáo của UNAIDS, khi số ca nhiễm mới trên toàn thế giới giảm 33% từ 3,4 triệu ca (năm 2001) xuống còn 2,3 triệu ca (năm 2012), và số ca tử vong do AIDS giảm từ 2,3 triệu xuống 1,6 triệu người. Sự đóng góp của các TCPCP tại Việt Nam đã trực tiếp hỗ trợ thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ số 6.

Để minh họa trực quan các kết quả trên trong công bố khoa học, dữ liệu nên được cấu trúc thành biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu viện trợ theo lĩnh vực (Y tế 34%, Vấn đề xã hội 21%, Kinh tế 19%, Giáo dục 15%, Môi trường 6%, Khác 4%) đặt cạnh biểu đồ cột kết hợp đường biểu diễn tương quan giữa số lượng tổ chức tham gia và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn giải ngân từ năm 2003 đến năm 2013.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài cần chủ trì rà soát, hoàn thiện khung pháp lý và cải cách thủ tục hành chính. Mục tiêu cụ thể là rút ngắn thời gian thẩm định, phê duyệt các dự án viện trợ phi chính phủ từ 60 ngày xuống dưới 30 ngày trong giai đoạn 2014 – 2016, tạo điều kiện thuận lợi để giải ngân 100% các cam kết tài trợ quốc tế.

Thứ hai, Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng cơ chế tài chính chuyển tiếp bền vững. Cần thiết lập mô hình hợp tác công - tư (PPP) và cơ chế mua sắm dịch vụ xã hội từ các nhóm cộng đồng, bảo đảm nguồn ngân sách nhà nước và bảo hiểm y tế thay thế tối thiểu 50% phần kinh phí viện trợ quốc tế bị cắt giảm trước năm 2020.

Thứ ba, Cục Phòng chống HIV/AIDS (VAAC) và Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cần đẩy mạnh chương trình nâng cao năng lực chuyên môn. Mục tiêu tổ chức định kỳ 50 khóa tập huấn kỹ thuật mỗi năm cho hơn 2.000 cán bộ dự án, giáo dục viên đồng đẳng và nhân viên y tế thôn bản về quản lý ca bệnh và kỹ năng tư vấn xét nghiệm tự nguyện.

Thứ tư, Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS, ma túy và mại dâm cần thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa dùng chung. Hệ thống này giúp kết nối 100% các chương trình can thiệp của TCPCP với mạng lưới y tế tuyến huyện và xã trước năm 2018, khắc phục hoàn toàn tình trạng chồng chéo địa bàn và lãng phí nguồn lực can thiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước (Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao, Ban Điều phối Viện trợ Nhân dân - PACCOM). Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng chiến lược quản lý viện trợ nhân đạo và quy chế phối hợp đa ngành trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống.

Nhóm 2: Lãnh đạo và cán bộ điều phối tại các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế (APHEDA, CARE, World Vision, MCNV, COHED). Nghiên cứu mang lại các mô hình can thiệp giảm tác hại hiệu quả, bài học kinh nghiệm trong quản lý dự án cộng đồng và phương pháp tiếp cận các nhóm đối tượng nguy cơ cao.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, Xã hội học, Y tế công cộng và Quản lý công. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về vai trò của các chủ thể phi nhà nước, cơ chế hợp tác đa phương và phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp dữ liệu dịch tễ học.

Nhóm 4: Các định chế tài chính và tổ chức phát triển quốc tế (UNAIDS, WHO, Quỹ Toàn cầu, WB, ADB). Tài liệu cung cấp dữ liệu đánh giá tác động thực tế của các khoản viện trợ tại Việt Nam, phục vụ việc xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách giai đoạn chuyển giao kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã đóng góp bao nhiêu kinh phí cho Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu? Tổng giá trị viện trợ giải ngân của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài cho Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2013 đạt 2.609 triệu USD. Số vốn này tăng liên tục từ 102 triệu USD năm 2003 lên 314 triệu USD năm 2012, trong đó lĩnh vực y tế nhận nguồn tài trợ lớn nhất với hơn 800 triệu USD.

Lĩnh vực nào nhận được tỷ trọng viện trợ phi chính phủ cao nhất và tại sao? Y tế là lĩnh vực nhận viện trợ cao nhất, chiếm 34% tổng kinh phí (hơn 800 triệu USD giai đoạn 2003 – 2013). Nguyên nhân là do tính chất khẩn cấp của đại dịch HIV/AIDS và các cam kết thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ số 6, đòi hỏi nguồn kinh phí khổng lồ cho thuốc ARV và vật tư y tế.

Mô hình can thiệp cộng đồng nào của các tổ chức phi chính phủ mang lại hiệu quả rõ nét nhất? Mô hình truyền thông thay đổi hành vi thông qua mạng lưới giáo dục viên đồng đẳng của tổ chức APHEDA tại Bắc Kạn và Hải Dương là điển hình tiêu biểu. Dự án đã tiếp cận trực tiếp hàng nghìn người nghiện chích ma túy và phụ nữ bán dâm, giúp giảm thiểu đáng kể tỷ lệ lây nhiễm chéo.

Tại sao các tổ chức phi chính phủ lại có lợi thế hơn cơ quan nhà nước khi tiếp cận nhóm nguy cơ cao? Các tổ chức phi chính phủ có cơ chế vận hành linh hoạt, không mang tính quyền lực hành chính và xây dựng được niềm tin với các nhóm yếu thế. Nhờ việc sử dụng giáo dục viên đồng đẳng là người có HIV, các tổ chức này dễ dàng vượt qua rào cản mặc cảm xã hội để cung cấp dịch vụ y tế.

Thách thức lớn nhất đối với công tác phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam sau năm 2012 là gì? Thách thức lớn nhất là sự sụt giảm nhanh chóng của các nguồn viện trợ quốc tế khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Điều này tạo ra khoảng trống tài chính lớn, buộc Việt Nam phải đẩy nhanh lộ trình chi trả điều trị ARV qua bảo hiểm y tế toàn dân.

Kết luận

  • Khẳng định nguồn lực phi chính phủ là đòn bẩy then chốt với 2.609 triệu USD viện trợ lũy kế trong 11 năm, giúp Việt Nam triển khai dự án can thiệp tại hơn 78% số tỉnh thành.
  • Đánh giá cao vai trò tiên phong của các tổ chức quốc tế (APHEDA, CARE, FHI, Quỹ PEPFAR) trong việc chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nhân lực và hoàn thiện khung pháp lý phòng chống dịch.
  • Xác lập thành công mô hình hợp tác đa bên giữa Nhà nước, tổ chức quốc tế và mạng lưới cộng đồng trong việc giải quyết thách thức an ninh phi truyền thống.
  • Chỉ rõ nguy cơ thiếu hụt ngân sách khi nguồn tài trợ quốc tế cắt giảm dần sau năm 2012, đặt ra yêu cầu cấp bách về cơ chế tự chủ tài chính trong nước.
  • Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học vững chắc giúp định hình chính sách xã hội hóa y tế và quản lý các tổ chức phi chính phủ trong thời kỳ mới.

Luận văn đã đóng góp một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS suốt giai đoạn 2000 – 2012. Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần hoàn thiện cơ chế đặt hàng dịch vụ xã hội và bảo đảm chi trả điều trị qua bảo hiểm y tế trước năm 2020. Các nhà quản lý, chuyên gia y tế và nhà nghiên cứu hãy khai thác sâu các phát hiện cùng đề xuất trong luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác thực tiễn và phát triển chính sách hợp tác quốc tế.