CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN 1.1 KHU VUC KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ VAI TRO CUA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ.1 Khu vực kinh tế tư nhân.1 Một số khái niệm về khu vực kinh tế tư nhân. Trong sự phát triển của nền sản xuất xã hội, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ cơ bản và quan trọng nhất trong mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất xã hội. Theo quan điểm của Kinh tế chính trị Mác - Lénin thì quan hệ sở hữu được hiểu như sau: “ Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất chính là quan hệ giữa các giai cấp, các tập đoàn người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất đã quy định địa vị của từng giai cấp, tập đoàn người trong sản xuất xã hội”. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người đã từng tồn tại hai chế độ sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất là chế độ sở hữu tư nhân và chế độ sở hữu công cộng.
Sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất (hay còn gọi là công hữu) đã từng tồn tại trong buổi sơ khai phát triển của xã hội loài người - thời kỳ công xã nguyên thuỷ, đây là thời kỳ mà tất cả mọi tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên trong cộng đồng, không một cá nhân hay nhóm người nào có quyền sở hữu của riêng mình. Nói cách khác thì không một cá nhân riêng lẻ nào có quyền nắm giữ cho riêng mình, sử dụng, thu lợi, và chuyển nhượng các tài sản ngoài các luật lệ hoặc quy ước của cộng đồng. Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu mà tài sản thuộc về một hoặc một ít các cá nhân và chỉ cá nhân đó có quyền quyết định sử dụng tài sản. Hình thức sở hữu tư nhân về liệu sản xuất.(còn gọi là tư hữu) ra đời bắt đầu từ thời kỳ tan rã công xã nguyên thuỷ và chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, tiếp tục phát triển trong thời kỳ phong kiến và đặc biệt phát triển mạnh trong thời kỳ hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản.
Như vậy, có thể thấy rằng chế độ sở hữu là một tiêu chí quan trọng để phân biệt các phương thức sản xuất nói chung, phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa nói riêng. Cũng chính vì vậy mà phạm trù sở hữu hay hình thức sở hữu đã được sử dụng như một tiề n đề quan trọng trong việc nghiên cứu về phương thức sản xuấ t tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Giữa hai hệ thống kinh tế là hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa trước đây và hệ thống kinh tế thị trường (còn gọi là kinh tế tư bản chủ nghĩa) có sự khác biệt lớn về mức độ hay quy mô của khu vực sở hữu công cộng so với sở hữu tư nhân. Các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trước đây có cấu trúc sở hữu dựa trên sự thống trị tuyệt đối của sở hữu công cộng với hai hình thức là sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể thì các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lại dựa trên cấu trúc sở hữu với sự thống trị của khu vực sở hữu tư nhân trong nền kinh tế.
Ngày nay, ở hầu hết các nước phát triển, nền kinh tế được chia thành hai khu vực chủ yếu là khu vực kinh rế Nhà nước (khu vực công cộng) và khu vực kinh tế tư nhân (Khu vực ngoài quốc doanh). Trong đó kinh tế Nhà nước bao gồm toàn bộ các doanh nghiệp Nhà nước, các cơ sở kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, các công ty cổ phần có vốn Nhà nước chi phối. Kinh tế tư nhân theo nghĩa rộng (khu vực tư nhân) bao gồm các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân (công ty cổ phần không có vốn Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.) và các hộ cá thể, người kinh doanh nhỏ. Sự tồn tại của khu vực sở hữu công cộng ở các nước phát triển cho thấy vai trò của khu vực kinh tế này trong việc can thiệp vào thị trường với tư cách là những phương thuốc làm hạn chế và khắc phục những thất bại của thị trường, giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định và phát triển bền vững hơn.
Cách phân chia nền kinh tế thành hai khu vực chính như trên đã chỉ rõ vai trò của từng khu vực kinh tế tro ng nền kinh tế và đây cũng là cách phân chia có tính khái quát cao, hiện đang được phần lớn các quốc gia sử dụng. Khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tuy nhiên do đặc tính đa dạng về loại hình, quy mô sở hữu cũng như ngành nghề, lĩnh vực hoạt động nên khi nghiên cứu và xem xét cụ thể hơn về khu vực tư nhân ở một số quốc gia, các nhà nghiên cứu lại đưa ra những quan điểm không hoàn toàn đồng nhất về khu vực tư nhân. Theo nhà kinh tế Hungary J.
Kornai thì khu vực kinh tế tư nhân bao gồm các loại hình sau: 1. Hộ gia đình, như một don vị kinh tế; sự sản xuất và dich vu trong nội bộ hộ gia đình cho nhu câu bản than họ. Xí nghiệp tư nhân chính thức, hoạt động theo các quy định của luật pháp, bất kểở mức độ nào từ việc kinh doanh của một cá nhân, đến xí nghiệp lớn. Xí nghiệp tư nhân phi chính thức, tức là một đơn vị kinh tế của “ kinh tế ẩn”.
Loại này bao gồm mọi hoạt động sản xuất và dich vụ do các cá nhân thực hiện, không có giấy phép riêng của chính quyền, phục vụ cho nhau hay cho các xi nghiệp tu nhân chính thức. Bất kể việc sử dụng hữu ích nào của tài sản tư nhân hay tiết kiệm tư nhân, kể từ việc cho thuê nhà sở hitu tư nhân, đến việc vay mượn giữa các tu nhân với nhau. Tr 19] Theo quan điểm trên, khu vực tư nhân được hiểu với nghĩa rộng bao gồm các xí nghiệp chính thức trong khu vực tư nhân và khu vực kinh tế phi chính thức(bao gồm các hộ gia đình, các cá nhân và bất kể hoạt động kinh doanh nào của người dân cho dù đó là các hoạt động làm thêm ngoài công việc chính thức cho tới việc sử dụng các tài sản cho mục đích sinh lợi). Theo cách phân loại trên có một phần trùng lắp giữa các loại hình trong khu vực tư nhân và sẽ gây khó khăn cho việc thống kê và đo lường các chỉ số về khu vực kinh tế này.
Ở một số ít nước như Việt Nam và Trung Quốc lại có sự phân chia nền kinh tế thành các thành phần, các khu vực mang tính chất cụ thể và chỉ tiết hơn. Tại Trung Quốc cho đến nay, khu vực tư nhân là một khái niệm có nhiều điểm chưa được thống nhất. Khi sử dụng các khái niệm khác nhau thì con số về sản lượng, lao động và nhiều chỉ tiêu khác có thể khác nhau tới hàng chục lần, thậm chí hàng trăm lần. Hiện nay ở Trung Quốc có năm khái niệm thường được sử dụng nhất về kinh tế tư nhân như sau: 1.
Khu vực phi Nhà nước: bao gồm tất cả các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà nước, cả trong lĩnh vực công, nông và dịch vụ 2. Khu vực phi Nhà nước, phi nông nghiệp: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng loại trừ lĩnh vực nông nghiệp 3. Khu vực tu nhân: bao gôm các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà nước nhưng loại trừ doanh nghiệp tập thể 4. Khu vực tư nhân trong nước: bao gôm các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà nước nhưng loại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tu nước ngoài.
Doanh nghiệp tu nhân: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà nước nhưng loại trừ các hộ cá thế(Doanh nghiệp có ít hơn 8 công nhân) hay còn gọi là hộ công thương cá thể. Tr 19] Theo quan điểm trên, khu vực tư nhân khác với khu vực phi Nhà nước, khu vực phi Nhà nước được hiểu như khu vực ngoài quốc doanh( bao gồm khu vực tư nhân và kinh tế tập thể). Theo cách phân chia trên thì khu vực tư nhân bao gồm khu vực tư nhân trong nước và nước ngoài nhưng lại không bao gồm các hợp tác xã. Tuy nhiên khi quan niệm khu vực tư nhân trong nước thì các doanh nghiệp tập thể lại được tính đến.
Điều này xuất phát từ thực tế là có rất nhiều các doanh nghiệp tập thể (hợp tác xã) ở Trung Quốc là do tư nhân hoặc chính quyền các địa phương sở hữu. Nhóm thứ nhất được gọi là “ doanh nghiệp mũ đỏ”, nghĩa là sở hữu tập thể chỉ là chiếc mũ đỏ cho ông chủ tư nhân tránh được những rắc rối về tư tưởng, ý thức hệ và một số rắc rối khác, hoặc nhằm có được một số ưu đãi về vay vốn, nguyên liệu và đất đai. Nhóm thứ hai cũng gần như nằm trong tâm kiểm soát của chính quyền trung ương nên thuộc sở hữu Nhà nước[23. Chính vì sự tồn tại của sở hữu tập thể chỉ mang tính hình thức của các doanh nghiệp tập thể ở Trung Quốc nên một số doanh nghiệp tập thé thuộc khu vực tư nhân bởi sở hữu thực sự là của tư nhân, một số khác lại thuộc sở hữu của Nhà nước nên trong cách phân chia, số doanh nghiệp tập thể đó không được tính vào khu vực tư nhân hay tập thể mà được tính vào khu vực sở hữu Nhà nước.
Ở Việt Nam, kinh tế tư nhân được hiểu theo một số quan niệm hoàn toàn không giống nhau: Thứ nhất, khu vực kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành của nề n kinh tế, khu vực kinh tế này bao gồm các doanh nghiệp tư nhân trong nư ớc và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới dạng liên doanh và 100% vốn nước ngoài, trong đó các doanh nghiệp tư nhân trong nước bao gồm cả cá c hợp tác xã trong linh vực công thương và nông nghiệp. Quan điểm này đưa kinh tế tập thể vào khu vực tư nhân vì cho rằng thực chất các doanh nghiệp tập thể ở mộ t số lĩnh vực thì vốn hoàn toàn thuộc sở hữu tư nhân và trên thực tế hoạ t động của các doanh nghiệp này không được ưu đãi gì từ phía Nhà nước cho dù hìn h thức tồn tại về mat pháp lý là sở hữu tap thể.