Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận về phát triểncho vay của ngân hàng thương mại đối với Khách hàng doanh nghiệp FDI Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chương 3: Thực trạng phát triển cho vay khách hàngdoanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh. Chương 4: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp FDI ở Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh. 3 z CHƢƠNG1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến phát triểncho vay của ngân hàng thƣơng mại đối với doanh nghiệp FDI 1.
Một số công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp FDI Với vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với việc phát triển kinh tế, hoạt động của các doanh nghiệp FDI đã thu hút sự quan tâm chú ý của các chuyên gia kinh tế, cơ quan nhà nước, nhiều nhà quản lý, kinh doanh và nghiên cứu khoa học. Thực tế, có rất nhiều hội nghị, hội thảo khoa học được tổ chức và nhiều kết quả nghiên cứu về FDI và cho vay FDI tại Việt Nam. Các công trình nghiên cứu và tổng hợp trong nước chủ yếu nghiên cứu về hoạt động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp FDI đối với nền kinh tế Việt Nam như: + “Hiệu quả của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2005-2014” của Tổng cục Thống kê chủ yếu thống kê số liệu và đánh giá thực trạng hiệu quả của doanh nghiệp FDI; + “Quản lý môi trường tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam” (Nghiên cứu khoa học - Tác giả: Đinh Đức Trường - Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Tập 31, Số 5 (2015) 46-55) chủ yếu phân tích thực trạng quản lý môi trường tại khu vực doanh nghiệp FDI nhằm đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả doanh nghiệp FDI hướng tới sự phát triển bền vững tại Việt Nam; + “Nghiên cứu điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đến năm 2020” (Nghiên cứu khoa học - Tác giả: TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) với mục tiêu đề xuất kiến nghị điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năm 2020 của Việt nam phục vụ Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 4 z Ngoài ra, có nhiều học viên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài liên quan đến hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp FDI để làm đề tài nghiên cứu như: + “Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường vốn Việt Nam”(Luận án Tiến Sỹ - Tác giả:Nguyễn Tiến Hưng – 2011), tập trung nghiên cứu về hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu trong giai đoạn 1997- 2011 và giải pháp đến năm 2014; đặc điểm và môi trường hoạt động tín dụng những năm đó khác biệt lớn so với hiện nay.
+ “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam trong quá trình hội nhập”(Luận án Tiến sỹ - Tác giả: Nguyễn Thị Thu Đông -2012), trình bày lý luận về tín dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại, chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam, định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn 2012- 2015. +“Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”(Luận án Tiến Sỹ - Tác giả: Trần Trọng Huy- 2013) nghiên cứu chuyên sâu về tín dụng ngân hàng và đưa ra giải pháp về mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các chi nhánh NHNo&PTNT Việt Nam trên địa bàn TP. + “Hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (Luận văn Thạc sỹ - Tác giả: Nguyễn Thị Thu Giang – 2017) nghiên cứu về hoạt động cho vay đối với DN FDI và đưa ra giải pháp, định hướng trong hoạt động cho vay DN FDI tại Vietinbank Bắc Ninh. Khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu Việc nghiên cứu tình hình cho vay và phát triển cho vay Doanh nghiệp FDI tại các Ngân hàng thương mại đã được nhiều cá nhân, tác giả, nghiên cứu sinh lựa chọn phân tích.Các đề tài về phát triển tín dụng ngân hàng rất nhiều, tuy nhiên nghiên cứu về phát triển tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư 5 z nước ngoài số lượng công trình nghiên cứu còn hạn chế, chỉ có một số đề tài nhưng tính ứng dụng vào thực tiễn chưa cao.
Tuy nhiên, các đề tài tập trung nghiên cứu về hiệu quả cho vay nói chung và quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay, không đi sâu nghiên cứu về cho vay ngân hàng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay. Một số đề tài tập trung nghiên cứu về nâng cao chất lượng cho vay nói chung tại Vietcombank, không nghiên cứu về chất lượng cho vay ngân hàng đối với doanh nghiệp FDI tại một Chi nhánh Vietcombank cụ thể, giai đoạn nghiên cứu 2016-2018. Các đề tài về phát triển cho vay ngân hàng đa số đều nói chung về cho vay doanh nghiệp, cho vay thể nhân tại các ngân hàng, do đó một trong các hướng đi nghiên cứu sâu hơn của Luận án đó là vấn đề cụ thể về cho vay ngân hàng với một đối tượng khách hàng cụ thể. Tuy nhiên, với phạm vi tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, nghiên cứu khóa luận “Hoạt động cho vayKhách hàng doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh” sẽ tập trung phân tích chủ yếu thực trạng cho vay và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cho vay đối với doanh nghiệp FDI của Vietcombank Bắc Ninh từ đó đưa ra giải pháp kiến nghị để đẩy mạnh phát triển cho vay đối với doanh nghiệp FDI riêng tại Vietcombank Bắc Ninh.
Những vấn đề lý luận chung về cho vay của ngân hàng thƣơng mại đối với Khách hàng doanh nghiệp FDI 1. Khái quát về doanh nghiệp FDI 1. Khái niệm về doanh nghiệp FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) có thể hiểu dưới các góc nhìn khác nhau. “Đầu tư trực tiếp nhằm đạt được quyền lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế nhà đầu tư” (Theo IMF- International Money Fund - Quỹ tiền tệ quốc tế).
Tuy nhiên, cách hiểu nàychú trọng nhiều vào quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài mà không quan tâm đến lợi ích của nước chủ nhà tiếp nhận đầu tư 6 z “ Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” còn “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” (Theo Điều 3 của Luật Đầu tư năm 2014). Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Doanh nghiệp FDI) là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bao gồm DN có 100% vốn nước ngoài hoặc DN liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước. Theo quy định của Vietcombank, định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Điều 4 Quyết định số 110/QĐ-HĐQT-CSTD ngày 20/01/2017 của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam về việc “Ban hành Quy định về Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Vietcombank: - DN có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài. - DN liên doanh giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài hoặc giữa các bên nước ngoài với nhau.
Đặc điểm của doanh nghiệp FDI Về mặt pháp lý:Thiết lập quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư tới nơi được đầu tư, Thiết lập quyền sở hữu với quyền quản lý đối các nguồn vốn đã được đầu tư 7 z Về quy mô vốn và quy mô hoạt động: Trong cơ cấu vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp FDI luôn có sự tham gia của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc cá nhân người nước ngoài với tỷ lệ cao nhất hoặc chi phối trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp; hoặc có số lượng lớn nhất.Đối với các doanh nghiệp FDI là công ty con của một tập đoàn từ nước khác đến đầu tư luôn có nguồn tài trợ tài chính từ Công ty mẹ trong cơ cấu bảng cân đối kế toán. Nguồn tài trợ chính từ Công ty mẹ có thể bằng hình thức: vay nợ ngắn hạn hoặc trung hạn từ Công ty mẹ; cho thuê máy móc thiết bị. FDI cũng có thể xem là sự mở rộng thị trường của các doanh nghiệp, tổ chức đa quốc gia Về năng lực điều hành: Doanh nghiệp FDI thường do đại diện Chủ sở hữu đại diện theo pháp luật nắm quyền điều hành hoặc là thành viên trong Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên có quyền biểu quyết quản lý hoạt động chung của Công ty. Bên cạnh đó, Ban quản lý doanh nghiệp thường có các thành viên từ Công ty mẹ/đại diện vốn góp nắm giữ các vị trí quản lý các bộ phận kỹ thuật, tài chính giúp việc cho Tổng giám đốc kết hợp sử dụng quản lý hành chính nhân sự người Việt Nam để điều hành quản lý Công ty.
Về trình độ sản xuất: Doanh nghiệp FDI đi theo các tập đoàn sản xuất lớn như: Samsung, Nokia, LG… nên đầu ra hầu hết chỉ xuất bán cho các tập đoàn nước ngoài đầu tư tại Việt Nam (là Vendor cung cấp thiết bị cấp I hoặc cấp II, cấp III). Về tập quán kinh doanh: Doanh nghiệp FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, thể hiện quyền chuyển giao công nghệ, kỹ thuật của nhà đầu tư với nước bản địa.