CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN NHIỆM KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Xếp hạng tín nhiệm khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm – chức năng – cấu trúc xếp hạng tín nhiệm 1. Khái niệm xếp hạng tín nhiệm Xếp hạng tín nhiệm (credit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh (credit: sự tín nhiệm, ratings: sự xếp hạng) do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong cuốn “cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái ABC được xếp lần lượt là AAA đến C (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế).
Tuy nhiên xếp hạng tín nhiệm chỉ phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 – 1933 khi hàng loạt các công ty vay nợ bị phá sản, vỡ nợ. Thời kỳ này chính phủ Hoa Kỳ đã có nhiều quy định về việc cấm các định chế đầu tư (các quỹ hưu trí, các quỹ bảo hiểm, ngân hàng dự trữ) bỏ vốn đầu tư mua trái phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín nhiệm. Những quy định này đã làm cho uy tín của các công ty xếp hạng tín nhiệm ngày một lên cao. Song trong suốt hơn 50 năm, việc xếp hạng tín nhiệm chỉ được phổ biến ở Mỹ, chỉ từ những năm 1970 đến nay, dịch vụ xếp hạng tín nhiệm mới được mở rộng và phát triển khá mạnh ở nhiều nước.
Chúng ta có thể điểm qua một số định nghĩa về xếp hạng tín nhiệm như sau: - Theo Bohn, John A, viết trong cuốn “phân tích rủi ro trên các thị trường đang chuyển đổi” thì “xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán trong suốt thời gian tồn tại của nó”. - Theo định nghĩa của công ty chứng khoán Merrill Lynch thì “xếp hạng tín nhiệm là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín nhiệm về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định. Nói khác đi, đó 6 là cách đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn. Trong kết quả xếp hạng tín nhiệm chứa đựng cả ý kiến chủ quan của chuyên gia xếp hạng tín nhiệm”.
- Theo công ty Moody’s thì “xếp hạng tín nhiệm là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ”. - Theo tự điển thị trường chứng khoán thì “xếp hạng tín nhiệm là cách ước tính chính thức tín nhiệm từ trước đến nay của cá nhân hay công ty về khả năng chi trả bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách nhiệm tín dụng của cá nhân và công ty kinh doanh”. Tại nhiều nước trên thế giới, hầu hết các công ty lớn và các tổ chức cho vay đều thiết lập bảng xếp hạng tín nhiệm đối với các khách hàng hiện tại cũng như tương lai của họ. Từ các định nghĩa trên, theo tác giả thì “xếp hạng tín nhiệm khách hàng doanh nghiệp là đánh giá năng lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp được xếp hạng từ đó xác định được mức độ rủi ro không trả được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai”.
Chức năng của hệ thống xếp hạng tín nhiệm Hệ thống XHTN giúp cho ngân hàng giảm bớt khả năng bị tổn thất bằng việc phát hiện sớm các khoản vay có vấn đề hoặc đi chệch hướng chính sách tín dụng mà ban đầu ngân hàng đã đề ra. Nó giúp cho ngân hàng có một nhận định chung và sớm hơn về danh mục cho vay trong định hướng tín dụng của mình để từ đó có các biện pháp tăng cường việc giám sát và điều chỉnh cho phù hợp hơn. Hệ thống XHTN giúp cho ngân hàng có thể tiếp cận và thu hút được nhiều khách hàng hơn bằng những chiến lược quản lý rủi ro tín dụng của riêng mình. Thông qua hệ thống XHTN, các ngân hàng có nhiều cơ sở hơn trong việc phân khúc được từng đối tượng khách hàng từ đó có phương pháp ứng xử phù hợp, tạo được uy tín và giúp cho hoạt động của ngân hàng ngày càng thuận lợi và ổn định.
Dựa 7 trên kết quả XHTN, ngân hàng có thể đưa ra nhiều thang lãi suất cho vay khác nhau dựa trên mức độ tín nhiệm của từng đối tượng khách hàng, lựa chọn được những khách hàng mục tiêu, cân đối giữa lợi ích và rủi ro từ đó mang lại lợi nhuận cao nhất cho chính mình. Trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế thế giới như hiện nay, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh buộc các ngân hàng phải từng bước nâng cao hơn nữa phương thức quản lý rủi ro tín dụng của mình. Do đó, hiệu quả của hệ thống XHTN doanh nghiệp là một điều tiên quyết mà các ngân hàng trong nước cũng như thế giới đang áp dụng. Cấu trúc của hệ thống xếp hạng tín nhiệm Hệ thống xếp hạng tín nhiệm gồm 03 phân hệ: - Phân hệ chỉ tiêu: bao gồm nhóm chỉ tiêu tài chính và nhóm chỉ tiêu phi tài chính.
Đây chính là hệ thống các thông tin thô mà ngân hàng xây dựng với mục đích thu thập các thông tin cần đánh giá về khách hàng qua các chỉ tiêu này. - Phân hệ thang điểm: là hệ thống thông tin tổng hợp từng ngành, lĩnh vực đã được lượng hóa theo từng mức thể hiện qua các thang đo từ thấp đến cao hoặc ngược lại nhằm mục đích lượng hóa các thông tin thô thu được từ khách hàng thông qua hệ thống các chỉ tiêu. - Phân hệ ra quyết định: hệ thống chuẩn hóa các kết quả tổng hợp từ các chỉ tiêu thô thu thập được (hệ thống chỉ tiêu), xác định các kết quả đóng góp của từng chỉ tiêu vào kết quả chung (hệ thống thang điểm) và đưa ra quyết định cuối cùng về xếp hạng tín dụng khách hàng đi kèm các chính sách đã được quy định trước. Vai trò của xếp hạng tín nhiệm 1.
Đối với ngân hàng thương mại Cơ sở để lựa chọn khách hàng cho vay Thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm khách hàng, ngân hàng sẽ đánh giá được mức độ tín nhiệm của từng khách hàng vay vốn, xác định được mức độ rủi ro khi cung cấp khoản vay, khả năng trả nợ vay. Dựa vào kết quả xếp hạng tín nhiệm 8 ngân hàng sẽ quyết định cho vay hay từ chối cho vay đảm bảo tính khách quan, khoa học. Xây dựng chính sách khách hàng Mỗi nhóm khách hàng ngân hàng sẽ có những cách ứng xử khác nhau vừa nhằm thu hút khách hàng vừa đảm bảo quản lý rủi ro, thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm khách hàng, ngân hàng sẽ phân chia khách hàng thành những nhóm dựa trên mức độ rủi ro. Những khách hàng có tín nhiệm cao, mức độ rủi ro thấp sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi hơn so với những khách hàng có mức độ rủi ro cao hơn.
Chính sách khách hàng bao gồm chính sách về cơ chế tín dụng, chính sách về lãi suất vay vốn, các loại phí,… Xây dựng danh mục tín dụng Dựa vào kết quả xếp hạng tín nhiệm ngân hàng sẽ đánh giá được mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh của khách hàng từ đó mà xây dựng danh mục tín dụng phù hợp. Phân loại nợ và quản lý nợ Phần lớn các ngân hàng thương mại thực hiện việc phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro theo quy định chung của NHTW. Tuy nhiên khi các tổ chức tín dụng đã xây dựng được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của riêng mình thì sẽ phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro theo kết quả xếp hạng của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ. Đối với doanh nghiệp được xếp hạng - Để đánh giá mức độ tín nhiệm của thị trường đối với bản thân doanh nghiệp: XHTN do một tổ chức độc lập thực hiện, kết quả này có thể phản ánh mức độ tín nhiệm của thị trường đối với doanh nghiệp, kết quả XHTN cao hay thấp cho thấy mức độ tín nhiệm của thị trường cao hay thấp đối với doanh nghiệp.
- Tạo niềm tin đối với nhà đầu tư, người cho vay để tăng khả năng huy động vốn: Kết quả xếp hạng cho biết mức độ rủi ro khi cho doanh nghiệp vay hay đầu tư vào doanh nghiệp, kết quả XHTN càng cao cho thấy rủi ro thấp, nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn khi đầu tư vào doanh nghiệp. 9 - Các doanh nghiệp thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm để quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp mình: Công bố kết quả XHTN cũng là một cách để quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp, công bố cho thị trường tình hình hoạt động và minh bạch các thông tin. Quy trình xếp hạng tín nhiệm khách hàng doanh nghiệp (Nguồn: tác giả tự tổng hợp) Hình 1.1: Quy trình xếp hạng tín nhiệm khách hàng doanh nghiệp Những giai đoạn chủ yếu của một quy trình XHTN khách hàng doanh nghiệp bao gồm: Thu thập thông tin về doanh nghiệp Các thông tin dùng để phân tích, đánh giá xếp hạng chủ yếu từ hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp vay vốn, bao gồm: - Bảng cân đối kế toán: là báo cáo tổng quát về tình hình tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, thường là cuối năm tài chính. - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là báo cáo tài chính tổng hợp về tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ.
10 - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh luồng tiền đi vào và ra khỏi doanh nghiệp, phát sinh theo các hoạt động khác nhau trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. - Bảng thuyết minh báo cáo tài chính: Bảng báo cáo đưa ra chi tiết và mở rộng các thông tin tóm tắt trong Báo cáo tài chính, giúp hiểu rõ hơn về tình hình thực tế của doanh nghiệp trong khoảng thời gian báo cáo.