Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý danh mục thông báo hoạt động tôn giáo" do sinh viên Trần Gia Bảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thu Huyền tại Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Hành chính Quốc gia (khóa học 2020–2024, bảo vệ tháng 5 năm 2024). Công trình thuộc ngành Luật học/Quản lý nhà nước, đi sâu vào lĩnh vực luật hành chính và quản lý nhà nước về tôn giáo.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ xuất phát từ đặc điểm lịch sử và văn hóa của Việt Nam – một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với tiến trình du nhập lâu đời của nhiều tôn giáo lớn như Phật giáo (du nhập từ năm 168–189 SCN), Công giáo (thế kỷ XVI–XVII), Tin Lành (xuất hiện năm 1911, cấp phép năm 1920) và Đạo Cao Đài (thành lập năm 1926). Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được Đảng và Nhà nước ghi nhận, bảo đảm tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 và kế thừa truyền thống lập pháp từ Sắc lệnh số 234/SL năm 1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển xã hội và xu thế công nghệ, hoạt động tôn giáo gia tăng về quy mô tín đồ, chức sắc, đồng thời nảy sinh nguy cơ tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Thực tiễn xuất hiện nhiều vụ việc lợi dụng tôn giáo truyền bá tư tưởng ly khai, chống phá Nhà nước (như hiện tượng "Bà cô Dợ" tại Điện Biên năm 2017 nhằm lập "Nhà nước Mông", hoạt động của "Tin lành Đề ga" tại Tây Nguyên năm 2001 và 2004, hoặc việc kích động lập "Nhà nước Khmer Krôm" ở Tây Nam Bộ) và lợi dụng tôn giáo để trục lợi, lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điển hình là vụ án Tịnh thất Bồng Lai – "Thiền am bên bờ vũ trụ" do Lê Tùng Vân đứng đầu tại Long An bị khởi tố năm 2022).

Trong các vụ việc trên, cơ quan quản lý nhà nước thường rơi vào thế bị động do các tổ chức không thực hiện thông báo hoạt động. Mặc dù Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã dành Điều 43 quy định về thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, nhưng pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ những khoảng trống lớn:

  1. Chưa quy định cụ thể các loại hình hoạt động tôn giáo nào bắt buộc phải nêu trong văn bản thông báo gửi cơ quan có thẩm quyền.
  2. Chưa có quy định rõ ràng về nội dung, trình tự thanh tra, kiểm tra việc thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.
  3. Hoàn toàn thiếu chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân không thực hiện thông báo hoặc thông báo sai quy định, khiến chính quyền cơ sở không có căn cứ pháp lý để xử lý.

Từ bối cảnh đó, khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ các khái niệm lý luận cơ bản, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo giai đoạn 2020–2023, từ đó tìm ra hạn chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo và thực trạng tổ chức thực hiện các quy định này trên thực tế.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Toàn bộ hệ thống quy định pháp luật áp dụng trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
    • Về thời gian: Tập trung vào các quy định pháp luật hiện hành và dữ liệu thực tế trong giai đoạn từ năm 2020 đến hết tháng 11 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới giác độ khoa học pháp lý hành chính và khoa học quản lý nhà nước. Tác giả vận dụng các khái niệm định danh tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016:

  • Tôn giáo: Khoản 5 Điều 2 quy định là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.
  • Hoạt động tôn giáo: Khoản 11 Điều 2 phân định thành ba nhóm hành vi: sinh hoạt tôn giáo (khoản 10 Điều 2), truyền bá tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo; kết hợp với các quyền hoạt động cụ thể theo Điều 7 và khoản 1 Điều 20 của luật.
  • Thông báo danh mục hoạt động tôn giáo: Được tiếp cận dưới hai góc độ: (1) Thủ tục hành chính quản lý nhà nước theo Điều 43 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; (2) Loại "văn bản đến" của cơ quan hành chính nhà nước theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ điều chỉnh bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 24).
  • Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Điều 2, 7, 20, 28, 43, 46, 60...).
  • Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (khoản 2 Điều 17).
  • Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (Điều 19, 21, 26, 28).
  • Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 25, 26, 28, 31 và Danh mục biểu mẫu Mẫu B30).
  • Nghị định số 63/2022/NĐ-CP (quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ Nội vụ).
  • Nghị định số 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư.
  • Quyết định số 32/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ của Ban Tôn giáo Chính phủ; Quyết định số 199/QĐ-BNV năm 2018 và Quyết định số 179/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; Thông tư số 05/2021/TT-BNV hướng dẫn chức năng nhiệm vụ của Sở Nội vụ và Phòng Nội vụ.
  • Đối chiếu lịch sử lập pháp với Sắc lệnh số 234/SL năm 1955, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 và Nghị định số 92/2012/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Kế thừa có chọn lọc các giáo trình, công trình nghiên cứu trước đó về quản lý nhà nước về tôn giáo (Trần Minh Thư, Cao Đại Đoàn, Nguyễn Thị Phương Anh, Lưu Huy, Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Thanh Xuân) nhằm chuẩn hóa khái niệm về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.
  • Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập dữ liệu báo cáo hành chính thực tế từ ba nguồn chính:
    1. Cơ quan quản lý nhà nước: Báo cáo số liệu thực tế giai đoạn 2020–2023 của Ban Tôn giáo Chính phủ, Công văn số 6955/BNV-TGCP ngày 28/12/2020 của Bộ Nội vụ.
    2. Các tổ chức tôn giáo: Hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính thực tế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), Hội thánh Cao Đài Minh Chơn đạo.
    3. Báo chí và tạp chí chuyên ngành chính thống: Báo Dân Trí, Báo Pháp Luật, Cổng thông tin điện tử Công an tỉnh Sơn La, Hướng dẫn số 43-HD/BTGTW năm 2017 của Ban Tuyên giáo Trung ương.
  • Phương pháp phân tích, so sánh: Xử lý số liệu thống kê hồ sơ, lập bảng biểu đối chiếu sự khác biệt giữa các quy định pháp luật và đánh giá thực tiễn tiếp nhận thủ tục hành chính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng và khung thể chế quản lý nhà nước đối với việc thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Tác giả chỉ rõ sự khác biệt giữa hai thủ tục pháp lý thông qua Bảng 1.1:

Tiêu chí so sánh Thông báo danh mục hoạt động tôn giáo Thông báo hoạt động tôn giáo
Cơ sở pháp lý Điều 43 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016; Điều 25, 26 Nghị định 95/2023/NĐ-CP Điều 31, 33, 34, 35, 36, 39, 42, 43, 44, 53 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016
Chủ thể thực hiện Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
Chủ thể tiếp nhận và quản lý Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp địa bàn Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo từng thủ tục
Thời gian thực hiện - Chậm nhất 30 ngày đối với thông báo danh mục hằng năm
- Chậm nhất 20 ngày đối với thông báo danh mục bổ sung
Tùy vào từng thủ tục hành chính khác nhau
Mẫu văn bản Mẫu B30 thuộc Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 95/2023/NĐ-CP Quy định tại Phụ lục danh mục các biểu mẫu kèm theo Nghị định số 95/2023/NĐ-CP

Về thẩm quyền quản lý nhà nước, khóa luận làm rõ cơ cấu 4 cấp hành chính:

  • Cấp trung ương: Chính phủ thống nhất quản lý; Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ (khoản 1 Điều 31 Nghị định 95/2023/NĐ-CP); Ban Tôn giáo Chính phủ (tương đương Tổng cục) trực tiếp tiếp nhận hồ sơ của tổ chức có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh.
  • Cấp tỉnh: UBND cấp tỉnh lãnh đạo chung; Sở Nội vụ tham mưu, trực tiếp là Ban Tôn giáo cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ của tổ chức hoạt động ở nhiều huyện trong một tỉnh. Đặc thù thực tiễn: Khảo sát 63 tỉnh, thành ghi nhận 2 tỉnh Bạc Liêu và Hà Giang không thành lập Ban Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ mà giao Ban Dân tộc – Tôn giáo (cơ quan chuyên môn ngang sở) thực hiện.
  • Cấp huyện: UBND cấp huyện lãnh đạo; Phòng Nội vụ (tổ chức tại toàn bộ 705 đơn vị hành chính cấp huyện trên cả nước) bố trí 1–2 công chức chuyên môn tiếp nhận hồ sơ của tổ chức hoạt động ở nhiều xã trong một huyện.
  • Cấp xã: UBND cấp xã và công chức văn hóa – xã hội tiếp nhận hồ sơ của tổ chức hoạt động trên địa bàn một xã.

Về đối tượng quản lý, căn cứ Công văn số 6955/BNV-TGCP, tính đến tháng 12/2020, Việt Nam có 36 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận; 04 tổ chức và 01 pháp môn được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo (gồm đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có một số chùa được công nhận Ban Trị sự/Ban Quản trị; 01 Thánh đường Hồi giáo tại số 12 Hàng Lược, Hà Nội có Ban Quản trị được công nhận). Về quy trình, hồ sơ Mẫu B30 được nộp qua 3 phương thức theo Điều 28 Nghị định 95/2023/NĐ-CP (trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công, trực tiếp tại Bộ phận Một cửa, hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích). Cuối chương, tác giả phân tích ba yếu tố tác động đến hiệu quả thực thi: tính đồng bộ của chính sách pháp luật; năng lực, nghiệp vụ của đội ngũ công chức; và ý thức tự giác chấp hành của các tổ chức, chức sắc tôn giáo.

Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Chương 2 đánh giá thực tiễn thi hành các quy định pháp luật trên phạm vi toàn quốc dựa trên dữ liệu tổng hợp của Ban Tôn giáo Chính phủ giai đoạn 2020–2023.

Về mức độ thực hiện thủ tục, báo cáo giai đoạn 2020–2023 ghi nhận:

  • Thông báo danh mục hằng năm: 36/36 tổ chức tôn giáo thực hiện (đạt 100%); 20.127 tổ chức tôn giáo trực thuộc thực hiện (đạt 68%); 14/14 tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động thực hiện (đạt 100%); 15/16 nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung thực hiện (đạt 92%).
  • Thông báo danh mục bổ sung: Tiếp nhận 696 văn bản của tổ chức tôn giáo (đạt 100%); 98.933 văn bản của tổ chức trực thuộc (đạt 98%); 210 văn bản của tổ chức được cấp chứng nhận (đạt 97%); 232 văn bản của nhóm sinh hoạt tập trung (đạt 95%).

Về thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ, Bảng 2.1 của khóa luận cung cấp số liệu chi tiết từ 01/01/2020 đến 30/11/2023:

Tên thủ tục Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận 2020 2021 2022 2023 Tổng số hồ sơ đã tiếp nhận Số hồ sơ gửi sai thẩm quyền
Thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm Ban Tôn giáo Chính phủ 30 20 15 0 60 5
Ban Tôn giáo cấp tỉnh 55 34 21 4 92 18
Phòng Tôn giáo/Nội vụ cấp huyện 608 522 124 27 1.155 126
Ủy ban nhân dân cấp xã - - - - 21.791 125
Thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung Ban Tôn giáo Chính phủ 105 189 195 207 696 11
Ban Tôn giáo cấp tỉnh 120 142 175 195 632 24
Phòng Tôn giáo/Nội vụ cấp huyện 1.410 1.620 2.011 2.920 7.961 108
Ủy ban nhân dân cấp xã - - - - (đang cập nhật) -

(Nguồn: Văn phòng Ban Tôn giáo Chính phủ)

Tác giả phân tích hai hiện tượng đáng chú ý từ bảng số liệu:

  1. Hồ sơ gửi sai thẩm quyền: Diễn ra tập trung ở các năm đầu (2020–2021). Nguyên nhân do Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã bãi bỏ thủ tục "đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo hằng năm" và thủ tục "đề nghị đối với hoạt động ngoài chương trình" vốn tồn tại trong Pháp lệnh năm 2004 và Nghị định 92/2012/NĐ-CP. Nhiều cơ sở tôn giáo chưa nắm bắt kịp thời nên thực hiện trùng lặp cả hai thủ tục hoặc gửi vượt cấp.
  2. Số lượng thông báo bổ sung tăng vọt trong năm 2022–2023: Sau khi đại dịch Covid-19 được kiểm soát vào đầu năm 2022, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phục hồi đồng loạt dẫn đến việc phát sinh khối lượng lớn văn bản thông báo bổ sung (điển hình cấp huyện tiếp nhận 2.920 hồ sơ năm 2023, tăng hơn gấp đôi so với 1.410 hồ sơ năm 2020).

Về việc áp dụng biểu mẫu, 100% tổ chức sử dụng đúng Mẫu B30 của Nghị định số 95/2023/NĐ-CP. Khảo sát thực tế tại Bảng 2.2 cho thấy nhiều tổ chức đã chủ động đính kèm chương trình, kịch bản chi tiết:

  • Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Gửi kèm chương trình, danh sách khách mời tại Hội thảo Hòa thượng Danh Nhưỡng; Hội thảo khoa học Công đức và đạo hạnh Tổ sư Như Hiển Chí Thiền (Tổ đình Phi Lai); kế hoạch và dự kiến số lượng người tham dự Đại lễ Vu lan 2023.
  • Giáo hội Công giáo Việt Nam: Gửi kèm chương trình chi tiết Lễ hội hành hương La Vang và Lễ Phục sinh.
  • Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam): Gửi kèm chương trình Lễ Rửa tội.
  • Hội thánh Cao Đài Minh Chơn đạo: Gửi kèm kế hoạch tổ chức Lễ kỷ niệm khai đạo.

Từ hạn chế về thể chế và chế tài, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp:

  1. Bổ sung quy định về các hoạt động bắt buộc phải thông báo: Luật hóa danh mục cụ thể các loại hình hoạt động tôn giáo phải thông báo, tránh tình trạng tùy nghi hoặc chỉ thông báo các cuộc lễ lớn.
  2. Ban hành quy định xử phạt vi phạm hành chính: Thiết lập khung chế tài hành chính đối với hành vi không nộp thông báo danh mục hoặc tổ chức hoạt động sai lệch nội dung đã thông báo.
  3. Sửa đổi, bổ sung quy định về thanh tra, kiểm tra: Quy định thẩm quyền, nội dung và quy trình thanh tra, giám sát việc thực hiện nội dung thông báo danh mục của các cơ quan chức năng.
  4. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho công chức cấp xã/huyện và hướng dẫn pháp luật định kỳ cho chức sắc, nhà tu hành.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu thực chứng:

  • Khái quát hóa và phân biệt rạch ròi giữa thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo (Điều 43 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016) và các thủ tục thông báo hoạt động tôn giáo riêng lẻ khác trong luật.
  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh về số liệu hành chính giai đoạn 2020–2023 từ Ban Tôn giáo Chính phủ: 100% tổ chức tôn giáo được công nhận nộp thông báo hằng năm; tiếp nhận tổng cộng 696 hồ sơ bổ sung ở cấp trung ương, 632 hồ sơ ở cấp tỉnh và 7.961 hồ sơ ở cấp huyện.
  • Làm rõ nguyên nhân nộp sai thẩm quyền trong giai đoạn chuyển tiếp thể chế từ Pháp lệnh năm 2004 sang Luật năm 2016.
  • Đóng góp khoa học tự thân: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tập trung trực tiếp và toàn diện vào thủ tục "thông báo danh mục hoạt động tôn giáo", khắc phục hạn chế của các đề tài trước đó vốn chỉ nghiên cứu quản lý hoạt động tôn giáo nói chung hoặc đóng khung trong phạm vi một địa phương hẹp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số điểm hạn chế do giới hạn tiếp cận tài liệu:

  • Chuỗi số liệu thống kê thủ tục hành chính tại cấp xã trong Bảng 2.1 chưa phân bổ chi tiết theo từng năm từ 2020 đến 2023 (chỉ có tổng số lũy kế đối với thủ tục hằng năm là 21.791 hồ sơ và khuyết số liệu đối với thủ tục bổ sung).
  • Khảo sát thực tế việc nộp tài liệu chi tiết (Bảng 2.2) mới thực hiện được trên một số tổ chức tôn giáo lớn thuộc thẩm quyền tiếp nhận của Ban Tôn giáo Chính phủ.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Nghiên cứu đề xuất khung mức phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể trong Nghị định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
  • Khảo sát toàn diện năng lực quản lý và thực trạng xử lý thủ tục hành chính của công chức văn hóa – xã hội cấp xã tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Công trình có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học các ngành Luật Hành chính, Quản lý nhà nước, Quản trị văn phòng và Tôn giáo học trong việc tham khảo phương pháp phân tích số liệu thủ tục hành chính.
  • Cán bộ, công chức làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tôn giáo tại Ban Tôn giáo Chính phủ, Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ và UBND cấp xã khi xử lý hồ sơ thủ tục Mẫu B30.
  • Các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc để nắm rõ trình tự, thời hạn (30 ngày đối với thông báo hằng năm, 20 ngày đối với thông báo bổ sung) và xác định đúng cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận theo phân cấp địa bàn.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Bảng so sánh 1.1 làm rõ bản chất thủ tục pháp lý và chuỗi thống kê hồ sơ thực tế tại Bảng 2.1 phản ánh sự dịch chuyển công tác quản lý sau đại dịch Covid-19.

Câu hỏi thường gặp

1. Thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm khác thủ tục thông báo bổ sung như thế nào về thời hạn và tần suất thực hiện? Theo Điều 43 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, thông báo danh mục hằng năm chỉ thực hiện một lần duy nhất, nộp chậm nhất 30 ngày kể từ ngày tổ chức được công nhận, chấp thuận hoặc cấp chứng nhận đăng ký. Đối với các hoạt động phát sinh ngoài danh mục đã gửi, người đại diện tổ chức phải làm văn bản thông báo bổ sung chậm nhất 20 ngày trước khi diễn ra hoạt động.

2. Thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được phân cấp theo tiêu chí nào? Thẩm quyền được xác định căn cứ vào phạm vi "địa bàn hoạt động" (nơi đặt trụ sở và thường xuyên diễn ra hoạt động) của tổ chức:

  • Địa bàn thuộc 1 xã: UBND cấp xã tiếp nhận.
  • Địa bàn thuộc nhiều xã trong 1 huyện: UBND cấp huyện (Phòng Nội vụ) tiếp nhận.
  • Địa bàn thuộc nhiều huyện trong 1 tỉnh: Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh (Sở Nội vụ/Ban Tôn giáo cấp tỉnh; riêng tỉnh Bạc Liêu và Hà Giang là Ban Dân tộc – Tôn giáo) tiếp nhận.
  • Địa bàn thuộc nhiều tỉnh: Cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương (Ban Tôn giáo Chính phủ – Bộ Nội vụ) tiếp nhận.

3. Tại sao trong các năm 2020–2021 lại xuất hiện tình trạng hồ sơ thông báo danh mục gửi sai thẩm quyền ở cả 4 cấp? Do Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có hiệu lực đã bãi bỏ thủ tục "đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo hằng năm" của Pháp lệnh năm 2004 và thay bằng thủ tục "thông báo". Trong giai đoạn đầu chuyển tiếp, nhiều tổ chức tôn giáo chưa kịp thời cập nhật quy định mới nên lúng túng, dẫn đến việc nộp trùng lặp cả hai thủ tục hoặc gửi sai cơ quan có thẩm quyền theo phân cấp địa bàn.

4. Pháp luật hiện hành đã có chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi không nộp thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hay chưa? Chưa. Khóa luận chỉ ra rằng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các văn bản hướng dẫn hiện hành chưa có quy định về chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không thực hiện thông báo danh mục hoặc tổ chức hoạt động ngoài danh mục. Khi phát sinh vi phạm, chính quyền địa phương chỉ có thể dừng lại ở biện pháp tuyên truyền, vận động.

5. Hồ sơ thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hiện nay sử dụng biểu mẫu nào và được nộp qua các phương thức nào? Hồ sơ áp dụng thống nhất Mẫu B30 ban hành kèm theo Nghị định số 95/2023/NĐ-CP của Chính phủ. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Nghị định này, tổ chức có thể nộp qua 3 phương thức: nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công, nộp trực tiếp tại Bộ phận Một cửa của cơ quan có thẩm quyền, hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính công ích/ủy quyền hợp pháp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Gia Bảo là công trình nghiên cứu chuyên khảo có chất lượng khoa học, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo tại Việt Nam. Dựa trên nguồn số liệu hành chính thực chứng giai đoạn 2020–2023 từ Ban Tôn giáo Chính phủ, tác giả đã chỉ ra những kết quả đạt được cùng các bất cập lớn của thể chế, đặc biệt là tình trạng thiếu vắng chế tài xử phạt vi phạm hành chính. Bốn nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật do tác giả đề xuất mang tính đồng bộ và khả thi cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về tôn giáo hiện nay.