phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về RRTD và quản trị RRTD DN của NHTM. Chƣong 2: Thực trạng RRTD và công tác QTRR TDDN tại NHTM cổ phần Quân đội chi nhánh Đống Đa. Chƣơng 3: Những giải pháp hoàn thiện công tác QTRR TDDN tại NHTM cổ phần Quân đội chi nhánh Đống Đa. 6 CHƢƠNG 1 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại Có nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro tuỳ thuộc vào chủ thể và hoạt động của chủ thể đó trong mối quan hệ với các yếu tố khác của môi trƣờng.
Tuy nhiên, giữa các quan niệm đó luôn có một điểm chung thống nhất đó là đều cho rằng rủi ro là sự bất trắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lƣờng đƣợc. Trong các các dịch vụ của NHTM, hoạt động cấp TD đem lại cho ngân hàng nguồn lợi nhuận lớn nhất và là cơ sở để phát triển các dịch vụ ngân hàng khác. Tuy nhiên rủi ro trong hoạt động cấp TD cũng là loại rủi ro phổ biến nhất, và khi đã xảy ra thì loại rủi ro này thƣờng để lại những tổn thất rất lớn cho các NHTM. Mục tiêu cao nhất của hoạt động cấp TD là phải đảm bảo thu hồi đƣợc nợ đúng theo cam kết trong hợp đồng TD.
Khi những nội dung này không đƣợc thực hiện thì RRTD xảy ra. Nhƣ vậy: “Rủi ro trong hoạt động cấp TD là những thiệt hại mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng không trả đƣợc nợ, nghĩa là không hoàn thành đƣợc nghĩa vụ trả nợ của họ theo nhƣ cam kết trong hợp đồng TD”. Vậy có thể hiểu bản chất của RRTD là những thiệt hại tiềm tàng, tiềm ẩn ngay khi khi ngân hàng cấp tín dụng đối với khách hàng; là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay vốn không trả nợ gốc, nợ lãi đúng hạn, không thực hiện theo đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng TD vì bất kể lý do gì.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động tín dụng RRTD rất đa dạng, có nhiều hình thức phân loại RRTD, nhƣ: phân loại theo mức độ rủi ro; phân loại theo thời hạn cấp TD; ngành nghề cấp TD; TSBĐ của khoản cấp TD. Tuy nhiên, khi xét về thiệt hại khi rủi ro xảy ra, thì RRTD có thể đƣợc phân loại nhƣ sau: - Rủi ro đọng vốn: là khi khách hàng không trả hoặc không có khả năng trả 7 đƣợc nợ đúng thời hạn theo cam kết với ngân hàng tại hợp đồng TD.
Rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng TD, bao gồm cả vốn và/hoặc lãi vay làm ảnh hƣởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng. Nói cách khác khách hàng đã chiếm dụng vốn của ngân hàng ngoài kế hoạch. Thiệt hại khi rủi ro xảy ra sẽ ảnh hƣởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, mất cân đối trong việc huy động vốn và sử dụng vốn. Nếu khoản cấp TD có rủi ro quá lớn sẽ khiến cho ngân hàng chậm trễ thực hiện các cam kết cấp TD với khách hàng khác để tạo nguồn thu mới cũng nhƣ ảnh hƣởng tới uy tín của ngân hàng khi tới hạn của các khoản tiền gửi.
- Rủi ro thu hồi vốn: là rủi ro bị mất vốn hoặc mất một phần vốn do ngƣời đi vay đã mất khả năng trả nợ. Để thu hồi nợ gốc và/hoặc nợ lãi ngân hàng phải thực hiện thanh lý TSBĐ cũng nhƣ các tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của khách hàng để thu hồi nợ. Trong hai loại rủi ro này, rủi ro thu hồi vốn xảy ra sẽ gây rất nhiều khó khăn cho ngân hàng vì những lý do sau: + Giá trị tài sản lúc thanh lý có thể bị giảm sút nhiều so với thời điểm định giá tài sản để xác định số tiền cho vay. + Nhiều trƣờng hợp, TSBĐ khó có khả năng phát mại do tâm lý không ai muốn mua chúng.
+ Giá trị tài sản khi thanh lý có thể bị chia sẻ với các chủ nợ đƣợc ƣu tiên thanh toán trƣớc: nộp thuế thực hiện nghĩa vụ với nhà nƣớc, trả lƣơng công nhân viên…, giá trị tài sản thanh lý còn lại rất nhỏ, không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng.3 Nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng Nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động cấp TD có thể hệ thống hoá, tập trung trong 3 nhóm nguyên nhân chủ yếu nhƣ sau: nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân ngân hàng, nhóm nguyên nhân thuộc về phía khách hàng, nhóm nguyên nhân khách quan bất khả kháng.1Những nguyên nhân từ phía ngân hàng - Nguyên nhân rủi ro xuất phát từ chiến lược kinh doanh của ngân hàng: mỗi 8 ngân hàng có những mục tiêu hoạt động và chiến lƣợc kinh doanh khác nhau. Nếu nhƣ ngân hàng lựa chọn hƣớng ƣu tiên phát triển hoạt động cấp TD, coi hoạt động cấp TD là mảng hoạt động mang lại thu nhập chính thì mục tiêu đƣợc đặt ra là liên tục tăng trƣởng quy mô dƣ nợ, gia tăng số lƣợng khoản vay, mở rộng đối tƣợng khách hàng vay và ngành nghề cấp TD. Việc tăng trƣởng dƣ nợ để chạy theo lợi nhuận và gia tăng khả năng cạnh tranh với các NHTM khác để chiếm thị phần có thể dẫn tới việc nới lỏng sự kiểm soát đối với chất lƣợng công tác cấp TD nhƣ: bỏ bớt các điều kiện cho vay, thực hiện cấp TD không đúng quy định, cấp TD thiếu tính định hƣớng dẫn đến đầu tƣ vào những lĩnh vực dễ bị lạc hậu, ít có triển vọng phát triển… Việc nới lỏng sự kiểm soát đối với chất lƣợng cấp TD sẽ dẫn đến RRTD. Việc tập trung phát triển dƣ nợ quá nóng, ví dụ chỉ cho vay ô tô, máy móc thiết bị, bất động sản.
mà không mở rộng các dịch vụ khác cũng có thể dẫn đến việc doanh nghiệp thiếu hụt vốn lƣu động phục vụ hoạt động kinh doanh, ngân hàng không kiểm soát đƣợc dòng tiền khiến nguồn thu bị ảnh hƣởng. - Nguyên nhân rủi ro xuất phát từ sự hạn chế của công nghệ ngân hàng: công nghệ ngân hàng có thể đƣợc hiểu là hệ thống các nguồn thông tin, dữ liệu, trang thiết bị, máy móc, phần mềm… phục vụ cho hoạt động của ngân hàng. Mỗi ngân hàng chỉ có thể vận hành, tác nghiệp và quản trị hoạt động của mình dựa trên một nền tảng công nghệ nhất định. Đối với hoạt động cấp TD, công nghệ ngân hàng, mà trƣớc tiên là hệ thống các nguồn thông tin, kho dữ liệu là yếu tố vô cùng quan trọng.
Một hệ thống thông tin đầy đủ sẽ giúp ích nhiều cho công tác thẩm định để ra quyết định cho mỗi khoản vay nhƣ: thông tin về bản thân khách hàng (về tƣ cách pháp lý, năng lực tài chính, lịch sử quan hệ với các ngân hàng của khách hàng), thông tin về ngành nghề hoạt động (khách hàng hoạt động trong ngành nghề có những ƣu đãi hay hạn chế gì, những đặc thù riêng có của ngành, triển vọng ngành phát triển hay suy thoái…), các thông tin vĩ mô có liên quan khác… Hệ thống thông tin, dữ liệu càng đa dạng cùng với công nghệ xử lý thông tin đầy đủ, hiện đại sẽ đem lại cho ngân hàng một cái nhìn nhiều chiều về ngành nghề, khách hàng và khoản vay. Từ đó có thể đƣa ra quyết định cho vay chính xác hơn, giúp chủ ngân hàng không bỏ lỡ các khoản vay tốt và tránh đƣợc những khoản vay xấu có thể gây thiệt hại lớn cho ngân hàng. Ngƣợc 9 lại, sự hạn chế về thông tin hay công nghệ ngân hàng nói chung có thể đƣa ngân hàng tới những sự lựa chọn đối nghịch (từ chối các khách hàng và khoản vay tốt trong khi lại chấp nhận cho vay đối với các khách hàng không có khả năng trả nợ), dẫn tới rủi ro trong cho vay. - Nguyên nhân rủi ro từ nguồn nhân lực và quy trình quản lý nội bộ của ngân hàng: Con ngƣời luôn là trung tâm của mọi hoạt động.
Trong lĩnh hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro từ chính cán bộ ngân hàng và công tác quản lý nguồn lực của ngân hàng. Đó là: + Cán bộ ngân hàng thiếu năng lực chuyên môn, làm việc tắc trách, không nhận biết đƣợc nguy cơ rủi ro từ phía khách hàng. + Cán bộ không có đạo đức nghề nghiệp tốt, thông đồng với khách hàng để mƣu lợi cá nhân. + Quy trình quản lý, kiểm tra nội bộ của ngân hàng chƣa đồng bộ, nhiều kẽ hở.
Tất cả những yếu tố này đều có thể dẫn đến rủi ro, gây tổn thất cho ngân hàng.2Những nguyên nhân từ phía khách hàng RRTD xuất phát từ phía khách hàng vay là một trong những nhóm nguyên nhân chủ yếu và phổ biến nhất. Việc khách hàng không trả đƣợc nợ vay có thể do nhiều nguyên nhân, tuy nhiên có thể chia thành hai nhóm nguyên nhân sau: nguyên nhân xuất phát từ tƣ cách, đạo đức của khách hàng vay và nguyên nhân xuất phát từ năng lực sử dụng vốn vay của khách hàng vay. - Nguyên nhân từ tư cách, đạo đức của khách hàng vay vốn: đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. Rất nhiều ngƣời vay vốn sẵn sàng mạo hiểm trong kinh doanh để thu đƣợc lợi nhuận cao.
Để đạt đƣợc mục đích của mình, họ không ngần ngại sử dụng các thủ đoạn lừa đảo để vay và chiếm đoạt vốn của ngân hàng nhƣ: lập hồ sơ vay vốn giả mạo, cung cấp thông tin sai sự thực, mua chuộc cán bộ ngân hàng… Nhiều khách hàng khác mặc dù có khả năng trả nợ nhƣng cố tình chây ỳ với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc kéo dài thời gian chiếm dụng vốn. Các trƣờng hợp này tuy không phải lỗi xuất phát từ phía ngân hàng nhƣng vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín, trách nhiệm của các cán bộ nói riêng và toàn bộ ngân hàng nói chung. 10 - Nguyên nhân từ năng lực sử dụng vốn vay của khách hàng vay: khách hàng vay vốn trung thực trong việc cung cấp thông tin cho ngân hàng và sử dụng vốn vay đúng mục đích.