CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có thể được định nghĩa như sau: “NHTM là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. [9] Theo Luật các TCTD năm 2017, tại Điều 4 có ghi: “Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động NH theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình NH bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” [11] và “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các HĐKD khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [10]. Vai trò của Ngân hàng thương mại Đầu tiên có thể thấy vai trò của NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Không chỉ DN mà các hộ sản xuất và cá nhân luôn có nhu cầu vốn để phục vụ cho việc SXKD cũng như nhu cầu tiêu dùng. Tuy nhiên, bản thân DN và các hộ sản xuất, cá nhân có những lúc lại không đủ vốn để đáp ứng nhu cầu đó.
Trong khi đó lại có một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư không sử dụng tới. Vì vậy, NHTM là đã đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi này và cấp chuyển vốn tới người có nhu cầu vay thông qua hoạt động tín dụng. Vai trò tiếp theo phải kể đến là NHTM được xem như công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. “Bằng việc yêu cầu các NHTM thực hiện chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như: giảm lãi suất, kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn… Nhà nước đã có thể phát triển một ngành 6 hay một vùng kinh tế nào đó.
Khi nền kinh tế tăng trưởng quá mức, thông qua việc các NHTM thực hiện chính sách tiền tệ là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, Nhà nước đã có thể giảm khả năng tạo tiền từ đó giảm khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế” [3]. Vai trò thứ ba của NHTM đó chính là cầu nối giữa DN và thị trường. Nhu cầu của khách hàng ngày một đa dạng đòi hỏi các DN không ngừng đa dạng và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình. Muốn làm được điều này đỏi hỏi các DN, hộ sản xuất phải có một lượng vốn lớn đầu tư vào máy móc trang thiết bị, củng cố bộ máy tổ chức, sử dụng nguồn nguyên liệu chất lượng cao… Tuy nhiên, tiềm năng về vốn của bản thân DN cũng như các hộ sản xuất không đủ để thực hiện điều này.
Vì vậy các DN, hộ sản xuất đã tìm đến ngân hàng xin vay vốn. Cùng với đó, các khách hàng cá nhân có nhu cầu tiêu dùng mua sắm nhưng lại không có tiền nên cũng tìm tới ngân hàng để vay vốn. Khi DN, hộ sản xuất có tiền thì đầu tư sản xuất tạo ra sản phẩm tốt phục vụ khách hàng, còn khách hàng khi có tiền thì có thể mua sắm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của mình. Điều này làm cho nền kinh tế được mở rộng phát triển và như vậy có thể nói ngân hàng thông qua hoạt động cấp tín dụng là cầu nối DN và thị trường.
Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại * Hoạt động huy động vốn NHTM muốn có vốn để cho vay thì phải thực hiện việc huy động vốn. Càng huy động được nhiều vốn thì ngân hàng càng có tiềm lực kinh tế mạnh và khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của thị trường càng cao. Do đó, huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản của NHTM và có tính chất sống còn đối với NHTM. Hoạt động này là cơ sở nền tảng cho các NHTM thực hiện các HĐKD khác.
Thông qua hoạt động này NHTM thực hiện chức năng tạo tiền, kích thích việc tiết kiệm trong dân cư đối với những khoản tiền nhàn rỗi và được thực hiện dưới các hình thức như: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá. 7 * Hoạt động tín dụng Khi đã huy động được vốn rồi, NHTM dùng nguồn vốn này cùng vốn chủ sở hữu đầu tư vào hoạt động tín dụng. Đây là hoạt động cơ bản, có ý nghĩa lớn vì thông qua hoạt động này mà hệ thống NHTM cung cấp một lượng vốn tín dụng rất lớn nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Thông qua việc nhường quyền sử dụng vốn cho người khác trong một thời gian nhất định ngân hàng sẽ thu lại được một khoản tiền gọi lài lãi vay hay chính là doanh thu từ việc cho vay.
“Hoạt động này mang lại nhiều lợi nhuận cho NHTM vì vậy mà nó chứa đựng nhiều rủi ro đòi hỏi các NHTM phải đặc biệt chú ý đến công tác phòng ngừa và hạn chế” [6]. * Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ “Nhờ hoạt động này mà các giao dịch thánh toán của toàn bộ nền kinh tế được thực hiện thông suốt và thuận lợi. Qua hoạt động này, NHTM đã góp phần làm giảm lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế” [3]. * Hoạt động khác “Ngoài những hoạt động kể trên thì NHTM còn thực hiện góp vốn mua cổ phần, mua bán chứng từ có giá trên thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối và vàng, kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm, thực hiện các nghiệp vụ ủy thác và đại lý, cung ứng các dịch vụ bảo quản, cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ và dịch vụ khác có liên quan… Trong tương lai, hoạt động này sẽ ngày càng được khách hàng sử dụng với những tính năng hữu hiệu của nó.
Hoạt động này đã góp phần làm tăng lợi nhuận cho NHTM đồng thời làm tăng nguồn vốn cho vay của NHTM thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng” [6]. Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Theo Luật các TCTD thì một số thuật ngữ có liên quan được quy định như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có 8 hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [10]. Tương tự như tín dụng thì RRTD cũng được nhiều người hiểu rằng đó là rủi ro từ hoạt động tín dụng gây ra.
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài của Thống đốc NHNN, “RRTD trong hoạt động NH (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” [14]. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Đặc điểm đầu tiên phải kể đến đó là RRTD mang tính chất gián tiếp. Đặc điểm này có thể hiểu là do trong thực tế, khi ngân hàng giải ngân vốn cho khách hàng thì những thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng nhưng vẫn nằm trong thời hạn cho vay nên hệ quả của nó ảnh hưởng tới cả ngân hàng. Hơn nữa, nhiều trường hợp ngân hàng không biết đầy đủ và chính xác những khó khăn, những thật bại mà khách hàng có thể gây ra cho ngân hàng trong quá trình vay vốn.
Đặc điểm thứ hai đó là RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp. “Đây là đặc điểm tất yếu của RRTD do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với RRTD khiến sự đa dạng và phức tạp của RRTD ngân hàng càng thể hiện rõ hơn” [12]. Đặc điểm cuối cùng đó là RRTD mang tính tất yếu.
Hoạt động tín dụng mang lại nhiều lợi nhuận cho NHTM nên RRTD càng cao. “Việc trao quyền sử dụng vốn cho khách hàng bản thân nó đã luôn tiềm ẩn những rủi ro. Vì vập, chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động của NHTM. Việc ngân hàng chấp nhận rủi ro và tiếp tục tham gia hoạt động cấp tín dụng là do các ngân 9 hàng đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro và lợi ích và tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận” [12].
Nếu như múc rủi ro là hợp lý, ngân hàng có thể gánh chịu và kiểm soát được thì khoản cho vay đó sẽ được ngân hàng chấp nhận thực hiện. Tác động của rủi ro tín dụng * Đối với ngân hàng Thu nhập của NHTM sẽ bị giảm đi nếu RRTD xảy ra. Lúc bình thường, NHTM tiến hành cho vay và thu lãi vay. Nhưng khi RRTD phát sinh, khách hàng không có khả năng thanh toán dẫn đến thu nhập từ lãi vay của NHTM bị ảnh hưởng.
Có thể không thu hồi được hoặc thu hòi ít hơn quy định hoặc cũng có thể thu hồi được nhưng sẽ mất nhiều thời gian công sức. “Không thu được lãi hoặc nợ gốc như cam kết mà vẫn phải trả lãi cho nguồn huy động, chi phí quản lý nên dẫn tới thu nhập của NHTM bị giảm. Mặt khác, nếu nợ quá hạn chuyển thành nợ khó đòi hoặc không thu được thì việc xử lý TSBĐ gặp rất nhiều khó khăn về pháp lý và ngân hàng sẽ lại phải mất chi phí để phát mại TSBĐ đó” [9]. Cùng với đó, khi RRTD phát sinh sẽ làm giảm khả năng thanh toán của NHTM.
Khi nợ cho vay không thu hồi được theo dự tính sẽ làm giảm nguồn vốn của NHTM. Nếu phát sinh trường hợp khách hàng gửi tiền tới rút với số lượng lớn thì NHTM sẽ bị giảm khả năng thanh toán. Khi đó NHTM buộc phải đi vay thị trường liên ngân hàng với chi phí cao vì nếu chờ huy động tiền gửi của người dân thì cũng sẽ mất nhiều thời gian. Nếu tình trạng này kéo dài, NHTM có nguy cơ phá sản.