Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản trị quan hệ khách hàng trong Ngân hàng Thương mại - Chương 2: Thực trạng công tác quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Hàn - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Công Thương - Chi nhánh Sông Hàn 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Các khái niệm cơ bản về quản trị quan hệ khách hàng Trong kinh doanh, các NHTM nhận thấy rằng việc họ cƣ xử với khách hàng sẽ quyết định tới lợi ích mà họ nhận đƣợc trong tƣơng lai. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, đối với các ngân hàng nói riêng thì khách hàng của NHTM là tất cả các tổ chức cá nhân, tập thể, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng, là những khách hàng đã, đang và sẽ sử dụng những sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng. Trong số các khách hàng đó, có thể có khách hàng chƣa từng quan hệ với Ngân hàng, khách hàng quan hệ lâu năm nhƣng cũng có những khách hàng không quan hệ nữa.
Tom Peters (trong cuốn “Thriving on chaos” Nhà xuất bản Harper and Row) xem khách hàng là “tài sản làm tăng thêm giá trị”. Đó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không có ghi trong sổ sách công ty. Vì vậy các DN phải xem “khách hàng là thƣợng đế”, là nguồn vốn cần đƣợc quản lý và phát huy nhƣ bất kỳ nguồn vốn nào khác Peters Drucker (1954) (trong cuốn “The Practice of Management”, New York Harper Brothers) cho rằng mục tiêu của doanh nghiệp là “tạo ra khách hàng”. Khách hàng là ngƣời quan trọng nhất đối với chúng ta.
Họ không phụ thuộc vào chúng ta mà chúng ta phụ thuộc vào họ. Họ không phải là ngƣời ngoài cuộc mà chính là một phần trong việc kinh doanh của chúng ta. Khi phục vụ khách hàng, không phải chúng ta giúp đỡ họ mà họ đang giúp đỡ chúng ta bằng cách cho chúng ta cơ hội để phục vụ. Do đó, quản trị quan hệ khách hàng - Customer Relationship Management - CRM là công tác bắt buộc các NHTM phải thực hiện, nếu muốn tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trƣờng cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt.
6 Các NHTM đã và đang đầu tƣ ngày càng nhiều vào công tác quản trị quan hệ khách hàng để tạo ra đƣợc những lợi ích trong dài hạn. Hơn nữa, khách hàng ngày càng hiểu biết hơn về dịch vụ mà họ nhận đƣợc. Họ so sánh, lựa chọn NHTM nào cung cấp nhiều giá trị lợi ích nhất dựa trên những kinh nghiệm đã có, nhu cầu và vị thế của mình. Do đó CRM là không thể thiếu đƣợc đối với NHTM.
Theo Dick Lee, thành viên của câu lạc bộ CRM Guru.com, “CRM là việc thực hiện các chiến lược tập trung vào khách hàng nhằm hướng tới việc thiết kế lại các hoạt động chức năng, khi việc thiết kế lại quá trình là cần thiết và được hỗ trợ bởi công nghệ quản lý quan hệ khách hàng”. Khái niệm coi khách hàng là tiêu điểm mà doanh nghiệp hƣớng tới thực hiện các chiến lƣợc tập trung, nhằm nắm bắt đƣợc nhu cầu và sự thay đổi nhu cầu của khách hàng, qua đó thiết kế lại các hoạt động chức năng, tức là thay đổi từ cái gốc, từ giai đoạn đầu tiên cho đến cả một quá trình, trong chuỗi các hoạt động cung ứng giá trị đáp ứng nhu cầu, mong muốn của khách hàng trên cơ sở sự hỗ trợ của công nghệ quản lý quan hệ khách hàng. Mei Lin Fung, thành viên của câu lạc bộ CRM Guru.com, cho rằng: “CRM là một siêu tập hợp các mô hình, phương pháp và công nghệ kinh doanh hiện đại quan hệ qua lại lẫn nhau được xây dựng nhằm tạo dựng, duy trì và phát triểm một mối quan hệ tốt đẹp với những khách hàng tiềm năng nhất”. Khái niệm này coi trọng các mô hình, phƣơng pháp và công nghệ đƣợc sử dụng trong kinh doanh nhằm hƣớng tới những khách hàng đã đƣợc lựa chọn trƣớc, những khách hàng đƣợc đánh giá là khách hàng chiến lƣợc, có thể đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho doanh nghiệp trong dài hạn.
Từ đó doanh nghiệp có thể tạo dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ lâu dài với những khách hàng tiềm năng nhất này. Qua khái niệm ta thấy CRM đƣợc phát triển lên một bƣớc mới thông qua CIMS-Hệ thống Quản lý Thông tin về Khách hàng, bắt nguồn từ thông có đƣợc đi đến phân loại, phân hạng khách hàng để từ đó hƣớng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm tạo dựng quan hệ với nhóm khách hàng chiến lƣợc ngày càng tốt hơn, đảm bảo sự ổn định cho những lợi ích dài hạn của doanh nhiệp. + Theo Tạp chí Nhà kinh tế (The Economist), thì CRM là một nguyên tắc tổ chức bao gồm sự xác định, thu hút và sử dụng các khách hàng đáng giá nhất nhằm 7 duy trì sự tăng trƣởng lợi nhuận. CRM cũng có thể là quá trình tìm và giữ khách hàng, tối đa hóa lợi nhuận, hành vi và sự thỏa mãn của họ.
+ Với mỗi định nghĩa CRM khác nhau thì cách thức thực hiện và chiến lƣợc triển khai CRM cũng khác nhau. Nhƣng nhiều chuyên gia đã nhất trí coi định nghĩa sau về CRM nhƣ một định nghĩa cơ bản và tác giả cũng đồng ý với nhận định này: “ Quản trị quan hệ khách hàng là một chiến lƣợc kinh doanh hƣớng vào việc tìm kiếm, chọn lựa và duy trì quan hệ với những khách hàng có giá trị nhất”. Ngày nay, định nghĩa về CRM đang dần đƣợc mở rộng bao hàm nhiều khía cạnh trong quan hệ khách hàng. Tuy nhiên, các hệ thống dịch vụ và dữ liệu khác vẫn đóng vai trò then chốt.
Chúng dẫn đƣờng trong việc tiếp cận với thông tin về khách hàng. Các dạng thức hoạt động mới của CRM vẫn xoay quanh những phản ứng của khách hàng. Những phần mềm và dịch vụ mới quản lý, khuyến khích và đánh giá cao các nguồn thông tin về phản ứng và thƣơng mại. Mục đích và lợi ích của quản trị quan hệ khách hàng 1.
Mục đích của quản trị quan hệ khách hàng CRM khởi nguyên từ ý tƣởng giúp các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực (Nhân lực và công nghệ) để hiểu thấu đáo về thái độ, thói quen của khách hàng và đánh giá giá trị của từng phân đoạn khách hàng riêng biệt. Với sự trợ giúp của một chƣơng trình CRM có hiệu quả, các doanh nghiệp có thể: + Mang đến các dịch vụ tốt hơn dành cho khách hàng + Giúp trung tâm hỗ trợ khách hàng hoạt động một cách hiệu quả nhất + Giúp các nhân viên bán hàng làm việc với quy trình nhanh chóng, đơn giản. + Tìm kiếm khách hàng mới. + Tăng doanh thu từ khách hàng.
Lợi ích của quản trị quan hệ khách hàng + Đối với khách hàng: CRM giúp duy trì và phát triển mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. Khách hàng cảm thấy hài lòng vì đƣợc cung cấp đầy đủ thông tin về doanh nghiệp và đƣợc phục vụ chu đáo. + Đối với doanh nghiệp: CRM giúp doanh nghiệp quản lý khách hàng, lắng nghe ý kiến khách hàng, dễ dàng quản lý tình hình kinh doanh và phát triển của 8 doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự đoán tƣơng lai. Giúp doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, thƣơng hiệu nhanh chóng, dễ dàng và tiết kiệm chi phí.
CRM là công cụ hỗ trợ giúp doanh nghiệp quản lý nhân viên kinh doanh một cách hiệu quả nhất, tập trung nhất. + Đối với nhà quản lý: CRM cung cấp cho nhà quản lý nhiều công cụ hỗ trợ hữu hiệu. Giúp thống kê, đánh giá, phân tích tình hình kinh doanh; So sánh tình hình kinh doanh từ quá khứ, hiện tại và dự đoán tƣơng lai. + Đối với nhân viên kinh doanh: Giúp quản lý thời gian và công việc hiệu quả, nắm rõ thông tin của từng khách hàng.
Nội dung của quản trị quan hệ khách hàng Với mỗi doanh nghiệp, khách hàng luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định đến sự phát triển. Vì vậy, tất cả các doanh nghiệp, trong đó có các ngân hàng luôn chú trọng xây dựng chiến lƣợc quản trị quan hệ khách hàng (CRM) cho đơn vị mình. Trong CRM, mô hình thiết lập và quản trị quan hệ khách hàng IDIC (Identify, Differentiate, Interact, Customize) giúp các doanh nghiệp tiếp cận khách hàng một cách cá nhân hóa hơn, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tạo ra mối quan hệ lâu dài với nhiều lợi nhuận hơn. Mô hình IDIC bao gồm 4 thành tố chính nhƣ sau: 1.
Thu thập thông tin và nhận diện khách hàng mục tiêu Thu thập thông tin để nhận diện khách hàng là bƣớc đầu tiên trong mô hình IDIC. Thu thập thông tin khách hàng giúp ngân hàng đƣa tất cả các thông tin khách hàng tập trung về một mối theo thông tin thống nhất. Với một cơ sở thông tin hoàn chỉnh, ngân hàng sẽ có đƣợc những kế hoạch chiến lƣợt nhằm thiết lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Thông tin khách hàng đƣợc khai thác từ nhiều nguồn thông tin khác nhau.
Ngân hàng cần phải xem xét những thông tin cơ bản và quan trọng để ghi nhận thông tin khách hàng một cách tốt nhất. Các thông tin này sẽ đƣợc tập hợp từ các biểu mẫu đƣợc thiết kế sẵn nhƣ: Họ và tên, số điện thoại, chứng minh nhân dân… Công tác thu thập thông tin khách hàng gồm: - Rà soát dữ liệu: 9 Bƣớc 1: Đánh giá chính xác thông tin cần nhận diện Bƣớc 2: Để khách hàng tự hiện diện Xác định thông tin khách hàng (Họ tên, số tài khoản, thông tin hộ gia đình, địa chỉ, số điện thoại). Thu thập thông tin, nhu cầu của khách hàng Liên kết Hội nhập Nhận ra Lƣu trữ Cập nhật Phân tích Tạo sự sẵn sàng Đảm bảo an toàn 1. Phân loại khách hàng Phân loại khách hàng theo giá trị Phân loại khách hàng theo nhu cầu Ngoài ra khách hàng còn đƣợc phân loại thành 4 loại nhƣ sau: - Khách hàng trung thành - Khách hàng có tiềm năng lớn - Khách hàng mang lại giá trị nhỏ - Khách hàng tiêu cực 1.
Tƣơng tác với khách hàng CRM là tập trung vào khách hàng, tƣơng tác thƣờng xuyên, liên tục với khách hàng bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp để thu hút khách hàng mới, duy trì và giữ chân những khách hàng đang có.