phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết. 7 CHƯƠNG1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BHXH, THU BHXH BẮT BUỘC VÀ QUẢN LÝ THU BHXH BẮT BUỘC 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH BHXH 1. Khái niệm về BHXH Trong hoạt động của đời sống của con người cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những khó khăn thường gặp phải con người có thể dự báo trước và cũng có thể tính toán bằng khoa học, thì con người luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra.
Trong hoạt động đời sống của con người, con người luôn có nhu cầu về vật chất và tinh thần mà con người cần được thỏa mãn, nói cách khác, nhu cầu là tất cả những đòi hỏi, mong muốn và nguyện vọng của con người, nhu cầu của con người thường đa dạng, phong phú và thường thay đổi và không được thỏa mãn đầy đủ theo thời gian vì thế nhu cầu của con người thường được xem là vô hạn. Ngoài ra con người muốn tồn tại và phát triển được thì nhu cầu tối thiểu và cần thiết trước hết là phải ăn, mặc, ở, đi lại, được đi học. Muốn thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động, nghiên cứu làm ra những sản phẩm cần thiết để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hoạt tối thiểu của gia đình. Những bất trắc, rủi ro xảy ra trong đời sống xã hội đem đến cho con người những tổn thất và những hậu quả vô cùng to lớn cả về mặt vật chất lẫn mặt tinh thần như ốm đau, tai nạn, già yếu hoặc không có công việc làm do ảnh hưởng của tự nhiên, do ảnh hưởng của các tác nhân xã hội khác.
Ngược lại, trong thực tế cuộc sống, không phải người lao động lúc nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe, khả năng lao động để tạo ra những nhu cầu cần thiết cho bản thân và gia đình được một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Do vậy muốn tồn tại, con người phải tìm ra nhiều biện pháp phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những rủi ro bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự bản thân mỗi người tự khắc phục thì người lao động phải được sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội. 8 Trong xã hội hiện nay sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau được phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau và được thể hiện qua tình đoàn kết, hướng thiện và các chương trình giúp đỡ người lao động không may gặp khó khăn về vật chất và tinh thần. Trong quá trình phát triển của xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp thì hệ thống bảo hiểm xã hội đã hình thành và phát triển.
Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa thì đội ngũ người lao động làm công ăn lương tăng lên, tất cả những chi phí cần thiết của cuộc sống người lao động phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do người lao động làm thuê đem lại. Vì vậy, một sự thiếu hụt, hụt hẫng về thu nhập của người lao động trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm.đã trở thành mối đe đọa cực kỳ nguy hiểm đối với cuộc sống bình thường của người lao động khi không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Thông thường con người có hai biện pháp để khắc phục rủi ro là chấp nhận rủi ro và biện pháp bảo hiểm. Thứ nhất là chấp nhận rủi ro là tự bản thân người lao động phải tự bảo hiểm cho mình bằng cách tự lập các quỹ dự trữ, dự phòng trong quá trình lao động có được để bù đắp, khắc phục những tổn thất do những biến cố rủi ro gây nên hoặc cũng có thể đi vay để bù đắp tổn thất trong trường hợp không lập quỹ dự trữ, dự phòng trước đó.
Thứ hai là bảo hiểm là chế độ bồi thường kinh tế và san sẽ những rủi ro giữa những người cùng tham gia bảo hiểm trên cơ sở những nguyên tắc, những quy định, chuẩn mực và cơ chế tài chính đã được quy định và thống nhất. Nhằm đảm bảo an toàn nguồn quỹ và giúp cho người lao động an tâm hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời hoạt động bảo hiểm là công cụ quan trọng và có hiệu quả để ổn định và phát triền kinh tế xã hội nói chung và là công cụ quan trọng để khắc phục những hậu quả do rủi ro xảy ra trong đời sống xã hội. Lần đầu tiên ở Đức vào năm 1850, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật. Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp.
Lúc đầu chỉ có giới người lao động tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Sự tham gia là bắt buộc 9 và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên). Tính chất đoàn kết, giúp đỡ và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già – trẻ, nam – nữ, lao động phổ thông – lao động kỹ thuật, người khoẻ – người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp vì mục đích chung. Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, bảo hiểm xã hội đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu á, châu Phi và vùng Caribê. Bảo hiểm xã hội dần dần đã trở thành một trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội và được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người. Có thể nói, qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đề của giới chủ và giới thợ, cùng với sự đổi mới quá trình phát triển kinh tế xã hội, cùng với trình độ chuyên môn và nhận thức về BHXH của người lao động ngày càng được nâng cao, cách thức chủ động khắc phục khi có những sự kiện hoặc không may gặp những rủi ro xảy ra ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, chỉ đến khi có sự ra đời của BHXH thì những tranh chấp cũng như những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất.
Đó cũng chính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội loài người trong quá trình phát triển. Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết được BHXH. Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nêu. Mặc dù trải qua quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn nhiều khái niệm về bảo hiểm xã hội.
Trong đề tài này, có thể hiểu bảo hiểm xã hội là bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không 10 được sử dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách cao nhất, đầy đủ nhất khi có Luật BHXH, đó là: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của nguời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo biểm xã hội" [Điều 3, Luật BHXH năm 2014]. Vai trò của BHXH đối với đời sống kinh tế, xã hội Chính sách bảo hiểm xã hội là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế và xã hội của Nhà nước, là những chủ trương, quan điểm, nguyên tắc BHXH để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và các vấn đề kích thích phát triển kinh tế của từng thời kỳ và hoạt động bảo hiểm xã hội không vì mục đích lợi nhuận. Do đó bảo hiểm xã hội có vai trò trong đời sống kinh tế - xã hội của người lao động như sau: Bảo hiểm xã hội góp phần đảm bảo ổn định đời sống của người lao động bảo đảm cuộc sống của người lao động khi gặp những biến cố của xã hội do mất sức lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau.Trong quá trình phát triển công nghiệp hóa hiện đại quá, người lao động làm công ăn lương là chủ yếu không có nguồn thu nhập khác, cho nên người lao động đóng góp một phần thu nhập của mình vào quỹ bảo hiểm xã hội, nhằm hỗ trợ người lao động khi mất sức lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau.khi không làm việc để duy trì và ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình.
Do vậy hoạt động bảo hiểm xã hội đòi hỏi tính trách nhiệm đóng góp của từng người lao động theo phương châm “ mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Ngoài ra người sử dụng lao động cũng có trách nhiệm đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội cho người lao động, theo nhìn nhận ban đầu thì việc đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động sẽ làm tăng chi phí sản xuất làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, nhưng 11 thực chất là điều tiết, chuyển giao trách nhiệm bảo vệ người lao động khi gặp những biến cố, rủi ro trên phạm vi toàn xã hội, giúp cho người sử dụng lao động an toàn lo sản xuất kinh doanh và thực tế cho thấy những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, da giày, dệt may. có sử dụng nhiều lao động nữ rất quan tâm đến chính sách bảo hiểm xã hội nhằm duy trì và bảo vệ người lao động của doanh nghiệp.