Chương 1: Cơ sở lý luận về QLNN đối với VTHK liên tỉnh bằng ô tô. Chương 2: Thực trạng QLNN đối với VTHK liên tỉnh bằng ô tô ở tỉnh Đồng Nai Chương 3: Hoàn thiện công tác QLNN đối với VTHK liên tỉnh bằng ô tô - áp dụng cho tỉnh Đồng Nai. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI VẬN TẢI HÀNH KHÁCH LIÊN TỈNH BẰNG Ô TÔ 1. Tổng quan về quản lý và quản lý nhà nƣớc 1.
Khái niệm về quản lý nhà nước a. Khái niệm quản lý Thuật ngữ "Quản lý" có nhiều cách lý giải khác nhau. Có quan niệm cho rằng quản lý là hành chính, là cai trị. Có quan điểm khác lại cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy.
Các cách giải thích này cơ bản không có gì khác nhau về mặt nội dung mà chỉ khác nhau ở chỗ dùng thuật ngữ. Quản lý đƣợc hiểu theo hai góc độ: Một là góc độ tổng hợp mang tính chính trị xã hội; hai là góc độ hành động thiết thực. Cả hai quan điểm này đều có cơ sở khoa học và thực tế. - Theo quan điểm về chính trị xã hội thì quản lý đƣợc hiểu là sự kết hợp giữa tri thức và lao động: Lịch sử phát triển xã hội loài ngƣời từ thủa sơ khai đến nền văn minh hiện đại ngày nay cho thấy rõ trong sự phát triển đó có ba yếu tố nổi lên rõ nét là tri thức, lao động và quản lý.
Trong ba yếu tố này thì quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và lao động. Sự kết hợp đó đƣợc biểu hiện trƣớc hết ở cơ chế quản lý, ở các chế độ chính sách, biện pháp quản lý và ở nhiều khía cạnh tâm lý xã hội khác. Tóm lại, ngƣời quản lý phải biết tác động bằng cách nào đó để ngƣời bị quản lý luôn luôn thoải mái, vui vẻ, đem hết năng lực và trí tuệ của mình sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho xã hội [10]. - Theo quan điểm về hành động thiết thực và quy trình công nghệ thì quản lý đƣợc hiểu là sự tác động và quá trình điều khiển.
Theo quan điểm này quản lý có ba loại hình: + Một là, con ngƣời điều khiển các vật hữu sinh không phải con ngƣời, để bắt chúng phải thực hiện theo ý chí của ngƣời điều khiển. Loại hình này đƣợc gọi là quản lý sinh học, thiên nhiên, môi trƣờng. + Hai là, việc con ngƣời điều khiển các vật vô tri vô giác để bắt chúng phát triển và thực hiện theo ý chí của ngƣời điều khiển, loại hình này đƣợc gọi là quản lý trong kỹ thuật. 5 + Ba là, việc con ngƣời điều khiển con ngƣời.
Đó là quản lý xã hội. Quản lý xã hội đƣợc Các Mác coi là chức năng đặc biệt đƣợc sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động. Từ đó ta có thể hiểu là quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời nhằm đạt đến mục tiêu, đúng ý chí của chủ thể quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Quản lý ra đời chính là nhằm đạt đƣợc hiệu quả lớn hơn, năng suất cao hơn trong công việc.
Thực chất của quản lý con ngƣời trong tổ chức là nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất. Tóm lại, theo cách chung nhất khái niệm về quản lý là: “Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt đƣợc mục đích đặt ra trong điều kiện biến động của môi trƣờng”. Có thể mô phỏng hoạt động quản lý nhƣ sau [10]: Quá trình quản lý Lập kế hoạch CÁC NGUỒN KẾT QUẢ: LỰC: - Đạt mục đích - Nhân lực - Đạt mục tiêu - Tài lực Kiểm tra Tổ chức - Mục tiêu đúng - Vật lực - Hiệu quả cao - Thông tin Lãnh đạo Hình 1.1: Mô phỏng hoạt động quản lý b. Khái niệm quản lý nhà nước QLNN ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nƣớc, là sự quản lý của Nhà nƣớc đối với xã hội và công dân.
Đây là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nƣớc, đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành 6 vi hoạt động của con ngƣời, khác với dạng quản lý của các chủ thể khác chỉ dùng phƣơng thức giáo dục vận động quần chúng. Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội, Nhà nƣớc là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện, bằng pháp luật. Cụ thể nhƣ sau: - Nhà nƣớc quản lý toàn dân: Nhà nƣớc quản lý toàn bộ những ngƣời sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm công dân và những ngƣời không phải là công dân. - Nhà nƣớc quản lý toàn diện: Nhà nƣớc quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ.
Nhà nƣớc quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ quan quản lý điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luật quy định. - Nhà nƣớc quản lý bằng pháp luật: Nhà nƣớc lấy pháp luật làm công cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh. Do đó QLNN là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nƣớc, đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc [10]. Vậy khái niệm chung nhất về QLNN nhƣ sau: QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Theo khái niệm này, QLNN trƣớc hết là sự tác động có tổ chức. Sự tác động ấy thể hiện ở việc thiết lập các mối quan hệ xã hội giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa các tập thể với nhau để thực hiện một quá trình xã hội. Sự tác động ấy thể hiện ở việc hình thành nên các tổ chức với cơ cấu và chế độ hoạt động của nó. Tiếp đến, sự tác động ấy nhằm tổ chức các hoạt động, phối hợp các khâu, các mắt xích làm sao cho guồng máy vận hành theo đúng mục tiêu đã định.
QLNN theo khái niệm này còn là sự tác động mang tính điều chỉnh, điều chỉnh bằng pháp luật nhằm hƣớng các hoạt động và các hành vi của con ngƣời đi theo đúng quỹ đạo, tạo nên sự phù hợp giữa chủ thể - khách thể và sự cân bằng của hệ thống. 7 Quản lý còn là sự tác động mang tính quyền lực của Nhà nƣớc, tức là mang tính đơn phƣơng và bắt buộc bằng pháp luật theo nguyên tắc pháp chế. Đối với lĩnh vực GTVT nói chung và hoạt động VTHK bằng ô tô nói riêng, hoạt động QLNN đƣợc định nghĩa nhƣ sau: QLNN về GTVT là sự tác động của bộ máy QLNN vào các quá trình, các quan hệ kinh tế xã hội trong hoạt động GTVT từ quy hoạch, kế hoạch đến tổ chức giao thông trên mạng lưới, tổ chức khai thác luồng tuyến, bến bãi và các hoạt động khác nhằm hướng ý chí và hành động của các chủ thể kinh tế vào thực hiện tốt nhiệm vụ của GTVT, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và lợi ích Nhà nước. Nhƣ vậy có thể hiểu QLNN trong GTVT nhƣ sau: QLNN về GTVT là toàn bộ hoạt động quản lý của các cơ quan chấp hành và điều hành của bộ máy nhà nƣớc để tác động vào các quá trình, các quan hệ thuộc hoạt động GTVT nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
Các nguyên tắc quản lý nhà nước a. Những nguyên tắc chung của quản lý nhà nước Nguyên tắc QLNN đƣợc hiểu là những yêu cầu bắt buộc, những tƣ tƣởng chỉ đạo hành động của tổ chức và hoạt động QLNN. Nguyên tắc QLNN đƣợc hình thành trên cơ sở khách quan và theo sự phát triển của nhà nƣớc và QLNN, do vậy nguyên tắc QLNN không phải là cố định. Các nguyên tắc ấy luôn luôn phát triển và hoàn thiện theo sự biến đổi của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và theo những diễn biến trong nhận thức khách quan của con ngƣời [10].
Những nguyên tắc QLNN chủ yếu bao gồm: Các nguyên tắc chung của QLNN Bảo đảm sự Tập Quản lý theo Kế Pháp Công lãnh đạo của trung ngành và hoạch chế khai Đảng dân chủ lãnh thổ hóa Hình 1.2: Các nguyên tắc chung của QLNN * Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng 8 Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nƣớc là sự lãnh đạo chính trị. Đảng đề ra đƣờng lối chính trị (cƣơng lĩnh chiến lƣợc), những chủ trƣơng phƣơng hƣớng lớn, những vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy và thông qua Nhà nƣớc, chúng đƣợc thể chế hóa thành pháp luật. Trƣớc hết Đảng lãnh đạo QLNN bằng Nghị quyết của các cơ quan của Đảng ở các cấp; trong đó vạch ra đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, nhiệm vụ cho QLNN, cho các mắt xích khác nhau của bộ máy quản lý. Đảng còn lãnh đạo Nhà nƣớc thông qua công tác cán bộ: Đảng kiểm tra thực hiện đƣờng lối đào tạo cán bộ, giới thiệu đảng viên và ngƣời ngoài Đảng có đủ năng lực phẩm chất vào làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc trên cơ sở tôn trọng các thể chế của Nhà nƣớc về tuyển dụng, bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ.
Về nguyên tắc, Đảng không làm thay các công việc của nhà nƣớc. * Nguyên tắc tập trung dân chủ Nguyên tắc tập trung dân chủ đƣợc thể hiện ở các mặt sau: - Thứ nhất: Phải đảm bảo sự thống nhất trong QLNN, có xét đến sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan QLNN, giữa Trung ƣơng và địa phƣơng, đảm bảo phát triển cân đối toàn bộ nền kinh tế quốc dân. - Thứ hai: Phải đảm bảo quyền tự chủ và tự do kinh doanh của các chủ thể kinh tế, cả về ngành nghề và về quy mô hoạt động, trên nguyên tắc có lợi cho quốc kế dân sinh và đúng pháp luật.