Chương 1 Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp vay vốn ngân hàng Chương 2 Thực trạng xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam Chương 3 Kiến nghị hoàn thiện phƣơng pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. Trang 10 CHƢƠNG I XẾP HẠNG TÍN NHIỆM DOANH NGHIỆP VAY VỐN NGÂN HÀNG 1. RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái niệm rủi ro tín dụng.
Trong cơ chế thị trường, hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng như các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực khác luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các rủi ro ngân hàng thương mại thường gặp phải trong hoạt động ngân hàng là rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường, rủi ro nguồn vốn. Rủi ro tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chính vì vậy khi khách hàng vay gặp phải rủi ro dẫn đến không trả được nợ cho ngân hàng thì sẽ ảnh hưởng ngay đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Tại Việt Nam, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì nợ xấu chiếm khoảng 3% tổng dư nợ, nhưng theo các chuyên gia nước ngoài, các tổ chức quốc tế thì nợ xấu chiếm tới 14-15% tổng dư nợ, tức là gấp 3 lần theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước.
Rủi ro tín dụng có thể được hiểu như sau : - Nếu hiểu tín dụng là sự ứng trước giá trị hiện tại để đổi lấy giá trị tương lai với mục đích mong muốn giá trị tương lai lớn hơn giá trị hiện tại thì rủi ro tín dụng là hiện tượng giá trị tương lai thu về nhỏ hơn hoặc bằng giá trị hiện tại. - Rủi ro tín dụng có thể được hiểu là xác suất khách hàng không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đã được cam kết. - Tiếp cận dưới góc độ điều khiển học thì rủi ro tín dụng được hiểu là sự xuất hiện những biến cố không bình thường trong quan hệ tín dụng, gây hậu quả xấu tới hoạt động ngân hàng như mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập của ngân hàng, vỡ nợ hay phá sản ngân hàng. Ngân hàng nhà nước đưa ra khái niệm về rủi ro tín dụng tại Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xẩy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy có thể khái quát, rủi ro tín dụng là tổng giá trị lớn nhất của khoản tiền mà một ngân hàng có thể thất thoát khi khách hàng lâm vào tình trạng không có khả Trang 11 năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã cam kết. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro ngân hàng không thu hồi được nợ khi đến hạn. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Các nguyên nhân khách quan.
Do môi trƣờng kinh tế không ổn định. Môi trường kinh doanh biến động nhanh, khó dự đoán. Hoạt động của ngân hàng thương mại gắn liền với hoạt động của các doanh nghiệp. Khi môi trường kinh tế không ổn định làm ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp thì hệ quả tất yếu là sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Nền kinh tế Việt Nam chúng ta vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công,… đây là những ngành, lĩnh vực vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu. Thực tế trong thời gian qua cho thấy ngành dệt may trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì bị khống chế hạn ngạch làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung. Ngành thủy sản cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá vừa qua. Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không kém.
Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới. Việc tăng giá phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sản xuất do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm. Trình độ quản lý vĩ mô còn yếu kém. Quản lý vĩ mô của nhà nước được thể hiện ở việc nhà nước tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua luật pháp, các quy định, định hướng cho các doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư, hỗ trợ tìm kiếm thị trường để tiêu thụ sản phẩm… Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây Trang 12 cũng là một hiện tượng khách quan.
Nếu nhà nước định hướng không tốt có khả năng xẩy ra trường hợp một ngành, một lĩnh vực nào đó được tập trung quá nhiều vốn đầu tư dẫn đến dư thừa, lãng phí. Thực tế tại Việt Nam trong thời gian qua cho thấy ngành mía đường là một ví dụ điển hình. Do định hướng không tốt đã dẫn đến việc đầu tư các nhà máy đường tràn lan, rất nhiều các nhà máy hoạt động kém hiệu quả do sản phẩm sản xuất ra giá thành cao, công nghệ lựa chọn đầu tư không phù hợp, thiếu quy hoạch vùng nguyên liệu sản xuất, đầu tư nhiều làm sản phẩm đầu đầu ra lớn hơn nhu cầu. Kết quả là nhiều doanh nghiệp mía đường lâm vào tình trạng phá sản, không có khả năng trả nợ vay ngân hàng.
Chỉ riêng ngành mía đường, hệ thống ngân hàng thương mại đã phải gánh chịu tổn thất trên 5. Nợ xây dựng cơ bản cũng đang là một vấn đề nhức nhối hiện nay, ngân sách nhà nước đang nợ các doanh nghiệp xây lắp đến 10. Các doanh nghiệp xây lắp với nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ bé, hoạt động chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng, nợ càng nhiều, càng lâu thì lãi phải trả càng lớn, hiệu quả càng thấp. Thực tế có những công trình đã hoàn thành nhiều năm nhưng vẫn chưa được thanh toán điều này đã làm cho các doanh nghiệp xây lắp càng thêm khó khăn, nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng không còn khả năng trả nợ ngân hàng.
Hệ thống thông tin quản lý yếu kém. Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt động một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng, nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả nên thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin của các ngân hàng thương mại đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng. Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng, thiếu chính xác về khách hàng thì nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng có thể gia tăng.
Rủi ro do môi trường pháp lý. Trang 13 Cơ chế của nhà nước. Nhà nước trong quá trình thực hiện điều tiết kinh tế vĩ mô, trong từng thời kỳ đã ban hành nhiều quy định, chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước, nhiều trường hợp các doanh nghiệp phải cho vay theo chỉ định hoặc cho vay theo kế hoạch của nhà nước. Trước đây đã có thời kỳ các doanh nghiệp nhà nước với tình hình tài chính không mạnh, không có tài sản đảm bảo nhưng vẫn được vay với số tiền rất lớn tại các ngân hàng thương mại nhà nước miễn là có phương án được cơ quan chủ quản phê duyệt.
Nhiều dự án kém hiệu quả nhưng ngân hàng thương mại phải cho vay theo chỉ định hoặc theo kế hoạch. Chính cơ chế của nhà nước mang tính đặc quyền, ưu đãi đã tạo ra rủi ro cho các ngân hàng thương mại. Thực tế cho thấy chính sách cho vay theo kế hoạch của nhà nước, cho vay theo chỉ định của chính phủ đã phát sinh rất nhiều nợ xấu. Văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều hạn chế.
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ. Những văn bản này đều có quy định: Trong những trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay. Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng.
Hoạt động kém hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước. Hoạt động kém hiệu quả của một số cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt trong xử lý tài sản đảm bảo cũng tạo ra rủi ro cho các ngân hàng thương mại. Theo quy định của pháp luật, ngân hàng có thể yêu cầu các cơ quan nhà nước phối hợp để xử lý tài sản đảm bảo như ủy ban nhân dân địa phương, công an cưỡng chế chủ sở hữu tài sản giao tài sản để phát mãi nhưng khi thực hiện ngân hàng rất khó có được sự hợp tác của các cơ quan này.