CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ðỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ðỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM: 1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hình thành và phát triển trong những ñiều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội nhất ñịnh. Lịch sử ra ñời và phát triển của NHNN Việt Nam gắn liền với quá trình phát triển trong từng giai ñoạn của cách mạng Việt Nam, gắn liền với quá trình hình thành, chuyển ñổi hệ thống NH một cấp sang hệ thống NH hai cấp ở nước ta.
Giai ñoạn trước năm 1951 (giai ñoạn trước khi NHNN Việt Nam ra ñời): Từ giữa thế kỷ XIX trở về trước ở Việt Nam chưa có một NH nào xuất hiện. Lý do chính là nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, mang nặng tính tự cung tự cấp, thương mại kém phát triển nên hầu như nhu cầu giao dịch tiền tệ không ñáng kể. ðến cuối thế kỷ XIX, sau khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta và thiết lập xong chế ñộ ñô hộ, do các hoạt ñộng kinh tế của người Pháp phát triển mạnh ở Việt Nam nên Pháp phải lập ra các NH ñể hỗ trợ cho các hoạt ñộng ấy. Lúc ñầu có hai NH ñược Pháp thành lập, trụ sở chính ñặt tại chính quốc, những chi nhánh ñược ñặt khắp các ñô thị Việt Nam, là NH ðông Dương (Banque De I’fndo Chine) và Pháp – Hoa NH (Banque Fcomeo – Chinoise), trong ñó NH ðông Dương vừa ñóng vai trò là NHTƯ trên toàn cõi ðông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia), vừa là NHTM [73, 24].
NH này là công cụ phục vụ ñắc lực chính sách thuộc ñịa của Chính phủ Pháp và làm giàu cho Tư bản Pháp. 7 ðến năm 1927, ở Miền Nam Việt Nam, một nhóm Tư bản Tài chính Việt Nam thành lập tại Sài Gòn một NH lấy tên là An Nam NH. ðây là sự kiện khẳng ñịnh tiếng nói của người Việt Nam trong giới tài chính. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra ñời và từ thời gian này ñến tháng 5/1951, tại Việt Nam không có một loại hình NH mới nào.
Mọi lĩnh vực thuộc tiền tệ, tín dụng ñều do Bộ Tài chính ñảm nhiệm. Giai ñoạn từ năm 1951 - 1987 (giai ñoạn phát triển hệ thống NH một cấp): Ngày 06/5/1951, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ñược thành lập theo Sắc lệnh số 15/SL nhằm thực hiện các nhiệm vụ cấp bách: (i) Phát hành giấy bạc, ñiều hòa sự lưu thông tiền tệ; (ii) Huy ñộng vốn của nhân dân, ñiều hòa và mở rộng tín dụng ñể nâng cao sản xuất của nhân dân và phát triển kinh tế Nhà nước; (iii) Quản lý Ngân quỹ quốc gia; (iv) Quản lý ngoại tệ và thanh toán các khoản giao dịch với nước ngoài; (vi) Quản lý tín dụng bằng các thể lệ hành chính, thể lệ vàng bạc, thể lệ về quỹ của các doanh nghiệp quốc gia; (vi) ðấu tranh tiền tệ với ñịch. Nói chung NH Quốc gia Việt Nam làm những công việc ñể thi hành chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng và chính sách NH của Chính phủ [4,1]. NH Quốc gia Việt Nam ra ñời là một bước ngoặt lịch sử trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng ở nước ta.
Lần ñầu tiên, dưới chế ñộ dân chủ mới - Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Việt Nam ñã thành lập ñược một NH, ñó là kết quả nối tiếp của quá trình ñấu tranh xây dựng tiền tệ, tín dụng ñộc lập, tự chủ, ñánh dấu bước phát triển mới, thay ñổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta. Ngày 21/01/1960, NH Quốc gia Việt Nam ñổi tên thành NHNN Việt Nam cho phù hợp với Hiến pháp năm 1959 và tránh sự nhầm lẫn với NH của chính quyền Ngô ðình Diệm ở miền Nam. Ngày 26/10/1961, Hội ñồng Chính phủ ra Nghị ñịnh số 171/CP quy ñịnh nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy NHNN Việt Nam. Các chức năng, nhiệm 8 vụ và quyền hạn của NHNN ñược mở rộng, hệ thống tổ chức ñược phát triển cả về số lượng và chất lượng, hình thành một hệ thống từ trung ương xuống ñịa phương nhằm bao quát các hoạt ñộng kinh tế và ñóng vai trò trung tâm tiền mặt, trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của nền kinh tế quốc dân.
Hệ thống này ñược tổ chức theo mô hình NH một cấp và tồn tại ñến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng và sau ñó nó thay thế luôn hệ thống NH Sài gòn cũ ở miền Nam Việt Nam cho ñến năm 1987. Ngày 31/12/1954 ở miền Nam, Bảo ðại ký Quyết ñịnh số 48/Qð thành lập NH quốc gia Việt Nam và nó tồn tại cho ñến năm 1975. Thời gian này, hệ thống NH miền Nam ñược tổ chức theo mô hình NH hai cấp, bởi lẽ nền kinh tế miền Nam trong giai ñoạn này vận hành theo cơ chế thị trường, bao gồm: NH quốc gia Việt Nam (ñóng vai trò là NHTƯ) và các NH trung gian ((NH phát triển (công lập); NH phát triển nông nghiệp (1967, có 25 chi nhánh); NH phát triển công nghệ Việt Nam (1971); các NHTM (17 NHTM tư nhân, 2 NHTM công lập với 144 chi nhánh ở khắp miền Nam); các NH nước ngoài (14 NH với 21 chi nhánh); các cơ sở tín dụng và tiết kiệm công lập) [73, 27]. + Từ năm 1975 ñến năm 1987: Sau ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, ñất nước thống nhất Nhà nước ta ñã tiến hành quốc hữu hóa hệ thống NH của chế ñộ Sài Gòn.
ðối với các NH tư nhân, Nhà nước tổ chức thanh lý, bởi lẽ chủ các NH này ñã tẩu tán tài sản và chạy ra nước ngoài. Còn các NH nước ngoài và chi nhánh NH nước ngoài ñều ñã rút khỏi miền Nam Việt Nam. Cụ thể, ngày 16/6/1977, Hội ñồng Chính phủ ban hành Nghị ñịnh số 163/CP thống nhất hệ thống NH trong toàn quốc hợp nhất vào NHNN, tạo thành hệ thống NHNN duy nhất của cả nước. Hệ thống tổ chức thống nhất của NHNN bao gồm: NHTƯ ñặt trụ sở chính tại thủ ñô Hà Nội, các chi nhánh NH tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các chi ñiếm NH có cơ sở tại các huyện, quận trên phạm vi cả nước.
Như vậy, từ khi thành lập ngày 06/5/1951 ñến năm 1987, hệ thống NHNN có một số ñặc ñiểm sau: 9 + Hệ thống NHNN là hệ thống NH một cấp, gắn với những ñặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. + Theo mô hình này, NHNN là hệ thống thống nhất toàn ngành, là một pháp nhân duy nhất hoạt ñộng trong lĩnh vực NH, vừa với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về NH, vừa tiến hành các hoạt ñộng của NHTƯ trên lãnh thổ Việt Nam; ñồng thời cũng kiêm luôn chức năng của một NHTM, tức là huy ñộng vốn và cho vay ñối với khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế tập thể. Giai ñoạn từ năm 1987 ñến nay: + Từ năm 1987 ñến năm1990: ðây là giai ñoạn thực hiện thí ñiểm mô hình hệ thống NH hai cấp. Cùng với sự chuyển ñổi cơ chế quản lý kinh tế, vào năm 1987 hệ thống NHNN Việt Nam ñã bắt ñầu có sự cải cách từng bước nhằm mục ñích phân ñịnh rõ ràng hai chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh của hệ thống NH; ñồng thời chuyển hẳn hệ thống NH một cấp sang cơ chế kinh doanh theo nguyên tắc hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN.
Quá trình chuyển ñổi hệ thống NH một cấp sang hệ thống NH hai cấp ñược bắt ñầu bằng việc tách dần chức năng quản lý nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng của hệ thống NHNN Việt Nam. Các NH chuyên doanh cũ và ñược thành lập mới ñã tiến hành áp dụng hạch toán kinh tế bắt buộc theo tinh thần Quyết ñịnh số 218/CT ngày 03/7/1987 về chuyển hoạt ñộng NH sang hạch toán XHCN và tại ðiều 1 Nghị ñịnh số 53-HðBT ngày 26/3/1988 của Hội ñồng Bộ trưởng về tổ chức bộ máy NHNN Việt Nam. Theo ñó, NHNN là cơ quan của Hội ñồng Bộ trưởng ñược tổ chức thành hệ thống thống nhất trong cả nước, gồm hai cấp là NHNN và các NH chuyên doanh trực thuộc. Hệ thống NHNN Việt Nam hoạt ñộng theo chế ñộ hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN [26, 1].
NHNN hoạt ñộng với tư cách là NH ñộc quyền phát hành, quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, NH và là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối. Với chức năng như vậy, NHNN Việt Nam thực sự trở thành một NHTƯ. Nhờ ñó, những ñường nét ban ñầu của cơ chế mới về hoạt ñộng NH ñã dần dần hình thành và ñược thể chế hoá bằng hai Pháp lệnh NH năm 1990. 10 + Từ năm 1990 ñến nay: là thời gian khẳng ñịnh tính hiệu quả của mô hình hệ thống NH hai cấp ở nước ta sau khi chuyển từ mô hình hệ thống NH một cấp và việc thực hiện thử nghiệm mô hình hệ thống NH hai cấp thành công.
Pháp lệnh NHNN Việt Nam và Pháp lệnh NH, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 23/5/1990 ñã chính thức chuyển cơ chế hoạt ñộng của hệ thống NH Việt Nam từ một cấp sang hai cấp. Theo ñó, lần ñầu tiên ñối tượng, nhiệm vụ và mục tiêu hoạt ñộng của mỗi cấp ñã ñược pháp luật phân ñịnh rạch ròi: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước, là cơ quan của Hội ñồng Bộ trưởng, có chức năng quản lý nhà nước về hoạt ñộng tiền tệ, tín dụng, ngân hàng trong cả nước, nhằm ổn ñịnh giá trị ñồng tiền; là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” [27, 1]. NHNN là một pháp nhân, ñặt trụ sở chính tại thủ ñô Hà Nội, có những chi nhánh ở những nơi cần thiết trong cả nước và văn phòng ñại diện ở nước ngoài. Theo ñó, NHNN thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về mọi mặt hoạt ñộng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ñiều hoà lưu thông tiền tệ; bước ñầu thực hiện nhiệm vụ của một NHTƯ – là NH phát hành tiền; là NH của các NH và là cơ quan quản lý của Nhà nước, thực hiện việc ñiều hành CSTT, lấy nhiệm vụ giữ ổn ñịnh giá trị ñồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản CSTT, thực hiện nhiệm vụ ñối ngoại của Nhà nước về NH với các tổ chức NH - tài chính của các Chính phủ hoặc Tổ chức Quốc tế trên thế giới.