Tổng quan nghiên cứu

Quá trình chuyển đổi kinh tế và mở cửa thị trường sau 20 năm đổi mới giai đoạn 1987–2007 đã tạo nên những bước tiến nhảy vọt cho hệ thống tài chính tiền tệ Việt Nam. Đặc biệt, sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007, thiết lập quan hệ thương mại với hơn 150 quốc gia, đã đặt hệ thống ngân hàng trước sức ép cải cách thể chế chưa từng có. Tuy nhiên, khung khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) theo Luật NHNN năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2003 đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng, từ sự thiếu độc lập trong xây dựng chính sách tiền tệ đến sự chồng chéo giữa quản lý hành chính nhà nước và chức năng ngân hàng trung ương hiện đại.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận về ngân hàng trung ương, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật điều chỉnh các nghiệp vụ cốt lõi của NHNN, từ đó xác lập hệ thống giải pháp lập pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian pháp lý tiền tệ tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập từ năm 1987 đến năm 2007, có đối chiếu với các cam kết đa phương như Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) và Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS). Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình sửa đổi toàn diện Luật NHNN, hướng tới mục tiêu duy trì tỷ lệ lạm phát ổn định ở mức 1 con số, bảo đảm an toàn hệ thống hơn 100 tổ chức tín dụng và nâng quy mô giao dịch nghiệp vụ thị trường mở đạt trên 124.000 tỷ đồng mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Ngân hàng Trung ương độc lập (Central Bank Independence - CBI) và học thuyết phân định cấu trúc quản trị tiền tệ quốc gia. Về mặt tổ chức, lý thuyết quản trị tài chính công chia mô hình ngân hàng trung ương thành 3 dạng chính: mô hình độc lập với chính phủ chịu sự giám sát trực tiếp của nghị viện như Hệ thống Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ hay Ngân hàng Trung ương Đức; mô hình trực thuộc Bộ Tài chính; và mô hình trực thuộc cơ quan hành pháp chính phủ như đang áp dụng tại Việt Nam, Trung Quốc và Hàn Quốc.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết điều hành chính sách tiền tệ gián tiếp qua cơ chế thị trường, tập trung vào 4 khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Vị trí pháp lý kép của NHNN với tư cách vừa là cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ vừa là NHTW theo Điều 1 Luật NHNN.
  • Chính sách tiền tệ quốc gia theo Điều 2 Luật NHNN nhằm kiểm soát lạm phát và giữ vững sức mua đồng tiền.
  • Công cụ tái cấp vốn và kiểm soát lãi suất theo Điều 9 và Điều 18 Luật NHNN.
  • Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và cơ chế dự trữ bắt buộc theo quy chế điều tiết cung ứng tiền tệ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống 12 Nghị định của Chính phủ, gần 40 văn bản thông tư, quyết định của Thống đốc NHNN, cùng chuỗi số liệu hoạt động tiền tệ giai đoạn 2000–2007 do Vụ Chính sách Tiền tệ và Cục Nghiệp vụ Phát hành Kho quỹ cung cấp.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn diện đối với 162 phiên giao dịch thị trường mở trong năm 2006, toàn bộ các mốc điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn từ 5,0% lên 6,5%/năm và 100% các quyết định thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ năm 1999 đến năm 2004. Cỡ mẫu này bao quát đầy đủ 4 nhóm định chế tài chính chủ lực trên thị trường, bao gồm các ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần đô thị và nông thôn, ngân hàng liên doanh, cùng các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học quy chuẩn kết hợp phân tích kinh tế thực chứng là nhằm nhận diện chính xác các xung đột pháp lý giữa luật quốc gia và các cam kết GATS. Phương pháp so sánh luật học cho phép đối chiếu quy định của Việt Nam với các chuẩn mực Basel, làm sáng tỏ độ trễ chính sách và tính khả thi trong quá trình nội luật hóa các chuẩn mực tài chính quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống pháp luật đã tạo chuyển biến tích cực trong việc dịch chuyển từ các công cụ trực tiếp sang công cụ gián tiếp để điều hành thị trường tiền tệ. Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở sau khi khai trương vào ngày 12/7/2000 đã có sự bứt phá mạnh mẽ: năm 2004 tổng khối lượng giao dịch tăng hơn 184% so với năm 2003 và tăng hơn 900% so với năm 2001. Đến năm 2006, NHNN đã tổ chức thành công 162 phiên giao dịch với tổng doanh số đạt 124.234 tỷ đồng, tăng 21% so với năm 2005, trong đó doanh số bình quân đạt 767 tỷ đồng mỗi phiên.

Thứ hai, nghiên cứu phát hiện tình trạng xung đột chức năng nghiêm trọng khi Điều 1 Luật NHNN năm 1997 định vị NHNN là cơ quan của Chính phủ. Điều này biến NHNN thành một cơ quan hành chính sự nghiệp, khiến hoạt động chi tiêu và nhân sự bị ràng buộc chặt chẽ theo Luật Ngân sách Nhà nước. Đáng chú ý, quy định cho phép NHNN tạm ứng ngân sách theo quyết định của Chính phủ đã vô hình trung tạo kẽ hở biến các khoản tạm ứng không có tài sản bảo đảm thành nghiệp vụ phát hành tiền bù đắp bội chi ngân sách, đi ngược lại nguyên tắc thị trường.

Thứ ba, sự thiếu đồng bộ của các công cụ chính sách tiền tệ khiến hiệu quả kiểm soát thị trường bị triệt tiêu đáng kể. Điển hình vào năm 2004, mặc dù NHNN đã ban hành Quyết định số 796/QĐ-NHNN nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND kỳ hạn dưới 12 tháng từ 2% lên 5%, nhưng dư nợ tín dụng toàn hệ thống vẫn tăng trưởng nóng ở mức 41,65% so với năm 2003, cho thấy cơ chế truyền dẫn của các công cụ tiền tệ còn chịu nhiều rào cản kỹ thuật.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ cột kép so sánh doanh số chào mua 36.832 tỷ đồng với doanh số chào bán 87.402 tỷ đồng trên thị trường mở năm 2006, kết hợp bảng ma trận phân tích mức độ tương thích giữa quy chế an toàn vốn hiện hành với 25 nguyên tắc cốt lõi của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng.

Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên xuất phát từ tàn dư của cơ chế quản lý tập trung và vai trò chủ quản của NHNN đối với các ngân hàng thương mại nhà nước theo mô hình Tổng công ty 90. Thực trạng này dẫn đến mâu thuẫn "vừa đá bóng vừa thổi còi": NHNN vừa thực hiện chức năng thanh tra, giám sát toàn ngành, vừa can thiệp sâu vào nhân sự và kế hoạch đầu tư cơ bản của các ngân hàng trực thuộc. So sánh với các nghiên cứu tài chính khu vực, cơ chế điều hành tỷ giá thả nổi có quản lý từ tháng 3/1999 tuy đã thu hẹp chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và thị trường tự do, nhưng quy định bắt buộc các ngân hàng nước ngoài chuyển đổi pháp nhân thành ngân hàng 100% vốn ngoại từ ngày 01/4/2007 theo cam kết GATS đang đòi hỏi NHNN phải sớm xóa bỏ mọi ưu đãi hành chính đối với khối quốc doanh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết luận nghiên cứu, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

  • Ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mới: Quốc hội cần sớm thông qua đạo luật thay thế trong lộ trình 2008–2010, xác lập rõ địa vị pháp lý của NHNN là Ngân hàng Trung ương độc lập tương đối thuộc Chính phủ. Cần bãi bỏ dứt điểm điều khoản tạm ứng ngân sách không thế chấp, quy định tỷ lệ độc lập tài chính đạt 100% trong việc lập và thực thi dự toán nghiệp vụ tiền tệ.
  • Hiện đại hóa hệ thống công cụ chính sách tiền tệ: Thống đốc NHNN cần mở rộng danh mục giấy tờ có giá tham gia nghiệp vụ thị trường mở, bổ sung các loại tín phiếu ngân hàng và trái phiếu chính quyền địa phương có kỳ hạn từ 7 đến 56 ngày; phấn đấu tăng tỷ trọng giao dịch gián tiếp chiếm trên 90% tổng can thiệp thị trường trong giai đoạn tới.
  • Tách bạch dứt điểm chức năng quản lý nhà nước và quyền đại diện chủ sở hữu vốn: Chính phủ cần ban hành Nghị định chuyển quyền quản lý phần vốn nhà nước tại các NHTM sang Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) hoặc một cơ quan chuyên trách trước năm 2009, giúp NHNN tập trung 100% nguồn lực vào công tác giám sát an toàn vĩ mô.
  • Nội luật hóa toàn diện các chuẩn mực quốc tế: Thanh tra NHNN cần chuyển đổi phương thức giám sát từ kiểm tra tuân thủ tại chỗ sang mô hình giám sát từ xa theo chuẩn CAMELS và Basel II; nâng cấp Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC) với mục tiêu thu thập dữ liệu rủi ro đạt tỷ lệ phủ trên 95% khách hàng vay vốn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan soạn thảo chính sách: Các ủy ban chuyên môn của Quốc hội và Ban soạn thảo Luật Ngân hàng sử dụng tài liệu làm cơ sở dữ liệu thực chứng để xây dựng các điều khoản về tính tự chủ tiền tệ và giám sát rủi ro hệ thống.
  • Ban điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Các chuyên viên hoạch định tại Vụ Chính sách Tiền tệ và Vụ Quản lý Ngoại hối có thể ứng dụng khung phân tích để tối ưu hóa việc điều hành lãi suất cơ bản 8,25%/năm và biên độ tỷ giá hối đoái.
  • Lãnh đạo các Tổ chức Tín dụng và Ngân hàng Quốc tế: Ban quản trị các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước nắm bắt được định hướng tái cấu trúc hệ thống thanh toán và quy định mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo chuẩn WTO.
  • Giảng viên và học viên cao học ngành Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Đề tài là nguồn tài liệu học thuật giá trị phục vụ giảng dạy các học phần Luật Ngân hàng, cung cấp phương pháp luận phân tích luật học thực nghiệm gắn liền với dữ liệu kinh tế vĩ mô.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm khác biệt cốt lõi giữa vị trí pháp lý của NHNN Việt Nam và NHTW các nước phát triển là gì?
Luật NHNN 1997 xác định NHNN là cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng. Ngược lại, các mô hình NHTW độc lập như Fed hay Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) không thuộc cơ cấu hành pháp, tự chủ hoàn toàn về lãi suất và không bị chi phối bởi các áp lực tài khóa ngắn hạn.

2. Tại sao quy định tạm ứng cho Ngân sách Nhà nước trong Luật NHNN 1997 lại chứa đựng rủi ro lạm phát?
Khoản tạm ứng theo chỉ đạo của Chính phủ không bắt buộc phải có tài sản bảo đảm như trái phiếu kho bạc sinh lãi. Khi các khoản tạm ứng kéo dài và chuyển hóa thành cấp phát, NHNN phải phát hành thêm tiền vào lưu thông, trực tiếp làm tăng áp lực lạm phát vượt ngưỡng 1 con số.

3. Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) đã hỗ trợ tiến trình tự do hóa lãi suất tại Việt Nam như thế nào?
Thông qua 162 phiên giao dịch với quy mô 124.234 tỷ đồng năm 2006, NHNN đã điều tiết lượng tiền cung ứng theo tín hiệu thị trường thay vì áp đặt hạn mức tín dụng hành chính, tạo tiền đề vững chắc để các tổ chức tín dụng tự do thỏa thuận lãi suất kinh doanh.

4. Cam kết GATS và WTO tác động như thế nào đến khung pháp lý về ngân hàng ngoại tại Việt Nam?
Theo cam kết gia nhập, từ ngày 01/4/2007, Việt Nam chính thức cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Điều này buộc pháp luật NHNN phải bãi bỏ các rào cản phân biệt đối xử, thiết lập sân chơi bình đẳng về huy động vốn VND và mở rộng mạng lưới chi nhánh.

5. Vì sao cần chấm dứt vai trò cơ quan chủ quản của NHNN đối với các ngân hàng thương mại nhà nước?
Việc vừa quản lý vốn chủ sở hữu vừa thực hiện thanh tra tạo ra sự thiên vị thể chế đối với khối NHTM nhà nước, làm giảm tính nghiêm minh khi xử lý vi phạm tỷ lệ an toàn vốn và gây cản trở động lực cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tài chính.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc chặng đường 20 năm đổi mới pháp luật ngân hàng (1987–2007), khẳng định tính đúng đắn của mô hình hệ thống ngân hàng hai cấp.
  • Chỉ rõ những bất cập pháp lý về tính độc lập của chính sách tiền tệ, nguy cơ phát hành tiền bù đắp ngân sách và sự chồng chéo trong vai trò chủ quản doanh nghiệp nhà nước.
  • Cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về lãi suất tái cấp vốn 6,5%/năm, doanh số thị trường mở 124.234 tỷ đồng và tốc độ tăng trưởng tín dụng 41,65%.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp lập pháp mang tính đột phá nhằm xây dựng NHNN thành một Ngân hàng Trung ương hiện đại theo chuẩn mực Basel.
  • Xác định lộ trình lập pháp trọng tâm giai đoạn 2008–2010 là ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi và hoàn thiện cơ chế thanh tra giám sát tài chính độc lập.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và chuyên gia hoạch định chính sách quan tâm có thể khai thác chi tiết các mô hình phân tích và dữ liệu thực chứng trong toàn văn công trình nghiên cứu để phục vụ công tác xây dựng thể chế kinh tế.