CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VE PHÒNG, CHÓNG THAM NHŨNG 1. Khái niệm, vai trò của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Khái niệm pháp luật về phòng, chỗng tham nhũng. Khai niệm tham nhĩũng.
Trong khoa học và thực tiễn đã có nhiều quan niệm khác nhau về tham nhũng. Ban nghiên cứu thuộc Hội đồng châu Âu đã đưa ra khái niệm tham nhũng: “Tham những bao gom những hành vi hồi lộ và bat kỳ một hành vi nào khác của những người được giao thực hiện một trách nhiệm nào đó trong khu vực nhà nước hoặc tu nhân, nhưng đã vi phạm trách nhiệm được giao để thu bắt kỳ một thứ lợi bắt hợp pháp nào cho cá nhân hoặc cho người khác” [93, tr. Theo Tổ chức Minh bạch Thế giới (TI), tham nhũng là hành vi “của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cô ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân”. Ngân hàng Thế giới (WB) cho rang tham nhũng là “sự lam dung chức vụ công để tr lợi” [77, tr.
Ngan hang Phát triển Châu A có quan niệm khá rộng về tham nhũng, đó là “lạm dung chức vu công hoặc chức vu tu dé tư lợi” [77, tr. 10] Ban Téng thu ky LHQ cho rang: “Tham nhiing bao ham: Một là: Hành vi của những người có chức, có quyên ăn cắp, tham 6 và chiếm đoạt tài sản của Nhà nước. Hai là: Lam dung chức quyên dé trục lợi bat hợp pháp thông qua việc sử dụng các quy chế chính thức một cách không chính thức. Ba là: Sự mâu thudn, không cân đối giữa các lợi ích chính đáng do thực hiện nghĩa vụ xã hội với những mon tu lợi riêng ” [53, tr.
Nai cho rang “Tham những bao hàm trong nội dung của nó cả tệ nạn hồi lộ, tệ bệnh gia đình chủ nghĩa và sự chiếm đoạt bat hợp pháp tài sản công cộng và biến tài sản đó thành của riêng cá nhân” [93, 20]. 13 Chủ tịch Hồ Chí Minh không sử dụng danh từ “tham nhũng”, nhưng Người thường nói đó là tham ô — biểu hiện đặc trưng nhất của tham nhũng: “Tham ô là gì? - Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: An cắp của công làm của tư Đục khoét của nhân dân An bot của bộ đội. Tiêu it mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phi để làm quỹ riêng cho địa phương mình, don vị mình, cũng là tham ô. - Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: An cắp của công, khai gian, lậu thuế" [45, tr.
Người khang định: "Tham 6 là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Tham 6 là trộm cắp của công, chiếm của công làm của tu" [46, tr. Tại Hội nghị quốc tế CTN lần thứ 13 diễn ra tháng 11/2008 tại Hy Lạp với chủ dé: “Minh bạch toàn cầu: chống tham nhũng vì một tương lai bền vững” đã xác định một phương trình (công thức) của tham nhũng là: C=M+D-A. Trong đó C là Corruption: tham nhũng: M là Monopoly: độc quyền; D là Discretion: sự che chan của quan chức; A là Accountability: trách nhiệm giải trình.
Thực tẾ 6 Việt Nam hiện nay cũng có nhiều quan niệm về tham nhũng. Theo từ điển Tiếng Việt, “ham những là sự lợi dụng quyên hạn để những nhiễu dân va lấy của ”[90, tr. Theo Luật PCTN: “Tham những là hành vi của người có chức VU, quyên hạn đã lợi dụng chức vu, quyền hạn đó vì vụ lợi ” (Khoản 2 Điều 1). Nghiên cứu tham nhũng từ góc độ đạo đức xã hội, vi phạm pháp luật va tội phạm thì GS.
Nguyễn Xuân Yêm, PGS. Nguyễn Hòa Bình, TS. Bùi Minh Thanh cho rằng: “Tham những là hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sw xuất hiện và tôn tại trong xã hội phân chia giai cấp và hình thành nhà nước, được thể hiện bằng hành vi lợi dụng chức vụ, quyên hạn để vụ lợi cho cá nhân hoặc người khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây thiệt hại tài sản của nhà 14 nước, của tập thể, của công dan hoặc de doa gáy thiệt hai cho hoạt động dung đắn của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc quyền, lợi ích hợp pháp cua công đán” [93, tr. Nghiên cứu tham nhũng từ nhiều góc độ, GS.
Phan Xuân Sơn và ThS. Hoàng Thế Lực cho rằng: “Tham những là một hiện tượng xã hội, trong đó các tổ chức, tập đoàn, cá nhân. lợi dụng những wu thé về chức vụ, cương vi, uy tín, nghề nghiệp, hoàn cảnh của mình hoặc người khác, lợi dụng những sơ hở của pháp luật để trục lợi bất chính” [53, tr. Có quan điểm cho rằng tham những là hành vi được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn hoặc nhiệm vụ công vụ được giao đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc nhiệm vụ công vụ đó dé vụ lợi cá nhân va thông thường gan với qua trình quan ly nha nước hay tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước.
Trong khi đó, có ý kiến cho rằng tham nhũng không chỉ giới hạn bởi các hành vi thuộc các cơ quan nhà nước mà còn ở những mối quan hệ khác trong xã hội, nó được xem như là một sự lợi dụng, biến lợi ích của tập thể thành lợi ích của cá nhân. Tham những được thực hiện cả trong phạm vi ngoài nhà nước hay còn gọi là trong cả khu vực tư. Mặc dù được diễn đạt khác nhau, Song hầu hết các quan điểm trên đều giống nhau ở chỗ cho rằng tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao thực hiện công vụ, nhiệm vụ nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc công vụ, nhiệm vụ đó để trục lợi cá nhân. Như vậy, tham nhũng là hành vi trái pháp luật của người có chức vụ, quyên hạn hoặc được giao thực hiện công vụ, nhiệm vụ nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyên hạn hoặc công vụ, nhiệm vụ đó để vụ lợi cá nhân, làm thiệt hại hoặc đe doạ gáy thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyên và lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân.
Từ khái niệm trên, nhìn dưới góc độ là một loại vi phạm pháp luật, tham nhũng có các dấu hiệu sau: Thứ nhát, chủ thé của tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao công vụ, nhiệm vụ nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc công vụ, nhiệm vụ đó dé vu lợi. 15 Thứ hai, khách thé của tham nhũng là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, thé hiện ở các lợi ích vật chất, phi vật chất mà chủ thé tham những hướng tỚI. Thứ ba, về mặt chủ quan của tham nhũng thì lỗi của người thực hiện hành vi tham nhũng là lỗi cố ý. Trong nhiều trường hợp chủ thể tham nhũng còn sử dụng các thủ đoạn hết sức tỉnh vi để che dấu và gây khó khăn cho việc phát hiện hành vi tham nhũng.
Về động cơ tham những thì phần lớn các trường hợp chủ thể tham nhũng đều có động cơ xuất phát từ ham muốn cá nhân dé thoả mãn nhu cầu về vật chất, tinh thần của họ, tức là động cơ vụ lợi. Mục đích mà các chủ thé tham nhũng muốn đạt được chủ yêu là những giá trị vật chất. Ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thé, lợi ích vật chất và phi vật chất đan xen. Thr tr, mặt khách quan của tham nhũng là những biểu hiện ra bên ngoài của chủ thé tham những, bao gồm hành vi tham nhũng, hậu quả tham nhũng và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả tham nhũng.
Hành vi tham nhũng là hành vi trái pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn, được thê hiện băng hành động hay không hành động. Hành động ở đây thường là việc người có chức vụ, quyền hạn không thực hiện đúng yêu cầu, giới hạn mà pháp luật cho phép; không hành động thường là không thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Luật PCTN quy định 14 hành vi tham nhũng, mặc dù vậy, các hành vi này nếu so với thực tế thì vẫn chưa đầy đủ và cần phải tiếp tục nghiên cứu dé bổ sung một số hành vi cho phù hợp. Hậu quả của tham nhũng là sự thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyên và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Phần lớn các hành vi tham nhũng đã trực tiếp làm thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân, người thực hiện hành vi tham nhũng đã chiếm đoạt được lợi ích vật chất, phi vật chat. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp chưa có thiệt hại xây ra nhưng đã đe doa gây thiệt hại lợi ich của Nhà nước, quyền va lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Mỗi quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả tham nhũng là mối quan hệ 16 biện chứng, hậu qua xây ra xuất phat từ hành vi của chủ thé tham nhũng. Khái niệm phòng, chống tham nhũng.
Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ được các quốc gia trên thế giới quan tâm thực hiện. PCTN được hiểu là các hoạt động “phòng ngừa tham nhũng” và “phát hiện, xử lý tham nhũng” nhằm thực hiện mục tiêu ngăn chặn, đây lùi được tình trạng tham nhũng. Phòng ngừa tham nhũng là biện pháp dé đề phòng, ngăn ngừa sự phát sinh các hành vi tham nhũng (không dé tham nhũng xấy ra). Tuy theo điều kiện hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mà mỗi nước có những cách thức, biện pháp phòng ngừa khác nhau.
Trong đó đáng ké nhất là các biện pháp tiền đề được các quốc gia trên thế giới áp dụng, đó là tăng cường tính công khai, minh bạch đối với các hoạt động của nhà nước; minh bạch tài sản, thu nhập của công chức; kiểm soát chặt chẽ tài sản, thu nhập của những người có chức vụ, quyền hạn; cải cách thủ tục hành chính, đưa ứng dụng công nghệ vào quản ly; thực hiện tốt thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; tăng cường công tác quản lý nhà nước, quản lý KTXH trên các lĩnh vực. Việc thực hiện các biện pháp này là điều kiện cần thiết để đề phòng, ngăn ngừa các hành vi tham nhũng nay sinh trên thực tế. Đi đôi với phòng ngừa tham nhũng, các quốc gia trên thế giới đều sử dụng các công cụ dé phát hiện và xử lý những người có hành vi tham nhũng. Phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng là biện pháp quan trọng nhất trong công tác dau tranh PCTN, thê hiện thái độ phản ứng của nhà nước đối với tham nhũng.