CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VÈ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGANG HÀNG (P2P LENDING) 1. Tổng quan về hoạt động cho vay ngang hàng (P2P lending) 1. Khái niệm cho vay ngang hàng, hoạt động cho vay ngang hàng Định nghĩa gốc của ngang hàng (peer-to-peer) dùng để chỉ những giao dịch giữa các cá nhân với nhau. Sau này được phát triến và mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực hoạt động, nhiều thị trường kinh doanh khác nhau được gọi là Kinh doanh ngang hàng (peer-to -peer business).
Trong lĩnh vực tài chính, cụ thể là hoạt động tín dụng đã hình thành khái niệm về cho vay ngang hàng. Thị trường tài chính ngang hàng (peer-to-peer lending marketplace) là nơi cung cấp những nền tảng cho những chủ thể có nhu cầu vay vốn và những cá nhân có tiền nhàn rỗi muốn đầu tư, gặp nhau và giao dịch với nhau. Đây là một thị trường cho vay mà trong đó các bên tham gia không chỉ là cá nhân mà còn có thế là những doanh nghiệp, tố chức chính phủ, tổ chức phi chính phù và thậm chí có sự đàu tư của Ngân hàng, các Quỹ đầu tư và Quỹ bảo hiểm. Những thị thường này hoàn toàn tách biệt với mô hình hoạt động kinh doanh dịch vụ tài chính truyền thống [17].
Trong quá trình hình thành và phát triến, đã có nhiều nhà khoa học đưa ra các định nghĩa khác nhau về CVNH. Theo Jeremy Mandell đến từ Công ty luật Morrison & Foerster, CVNH là một hoạt động kết nối đầu tư một cách thuận tiện bên ngoài hệ thống ngân hàng tiêu dùng thông thường; bằng cách kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay hoặc NĐT thông qua một nền tảng Internet. Theo trang web tài chính Investopedia, CVNH là một phương pháp cho vay tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân vay tiền và cho vay tiền giao dịch trực tiếp mà không cần đến một tổ chức tài chính chính thức làm trung gian. CVNH đề cập đến các khoản vay không có đảm bảo giữa người cho vay và người đi vay thông qua các nền tảng trực tuyến mà không cần trung gian cùa bất kỳ tố chức tài chính nào 9 Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Cho vay ngang hàng (tên tiêng Anh: Peer-to-peer lending, cũng viết tắt là cho vay P2P), là thực tế cho vay tiền cho cá nhân hoặc doanh nghiệp thông qua các dịch vụ trực tuyến phù hợp với người cho vay với người vay.
Theo Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) (2020), cho vay ngang hàng được hiểu là sự trao đồi tài chính trực tuyến, giữa các cá nhân hoặc tổ chức mà không thông qua trung gian trực tiếp như tổ chức tài chính truyền thống. Các ngân hàng có thể vẫn đóng một vai trò nhất định tùy từng luật pháp điều chỉnh ở mỗi quốc gia, các ngân hàng có thể hoạt động như các tổ chức lưu ký, cung cấp cho nền tảng các tài khoản của khách hàng và được xử lý trong nền tàng. Như vậy, có thể hiểu cho vay ngang hàng (P2P lending) hay còn tên gọi khác là cho vay giữa cá nhân (Person-to-Person) hay P2P, hoặc cho vay tại chỗ (Marketplace Lending) là mô hình kinh doanh mới, một loại hình dịch vụ sáng tạo, được thiết kế và xây dựng trên nền tảng ứng dụng công nghệ số để kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay (nhà đầu tư) mà không thông qua trung gian tài chính truyền thống. Theo đó, nhừng bên tham gia P2P bao gồm: nhà đầu tư (bên cho vay), bên vay và các công ty P2P cung cấp nền tảng công nghệ kết nối và hỗ trợ bên cho vay và bên vay (gọi tắt là công ty P2P).
Công ty P2P lending cung cấp nền tảng giao dịch trực tuyến để người vay kết nối trực tiếp vay mượn với người cho vay. Toàn bộ hoạt động vay, trả nợ (gốc, lài) giữa người vay và người cho vay được nền tảng giao dịch trực tuyển ghi nhận và lưu trữ bằng các bảng điện tử, số hoá. Cho vay ngang hàng được thực hiện dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, những công ty hoạt động theo loại hình này sử dụng công nghệ Big Data để thu thập tất cả dữ liệu của cả hai phía người cho vay và người đi vay và được hưởng phí dịch vụ từ cả nhà đầu tư và bên vay. Bên cạnh chức năng kết nối trung gian thông tin nêu trên, một số công ty P2P Lending có thể cung cấp dịch vụ hỗ trợ người đi vay và cho vay: định danh khách hàng (e-KYC), chấm điểm tín nhiệm, định giá khoản vay và tài sản đảm bảo, mua/bán lại khoản vay, thu hồi nợ.
10 Phương thức hoạt động của P2P lending là kêt nôi trực tuyên, nhà cung câp dịch vụ dựa trên các hệ thống truyền thông, mạng xã hội, tích hợp trong phần mềm chuyên dụng đưa ra các cơ chế chấm điểm tín dụng và đưa ra các thông tin về số tiền cho vay, lãi suất kỳ vọng, thời gian vay và mức độ rủi ro. Dựa vào các thông số này, người cho vay (sau đây gọi là nhà đầu tư) sẽ đăng ký nhu cầu cho vay. Các công ty P2P sẽ sử dụng nền tảng công nghệ để phối kết hợp nhu cầu của các bên một cách hợp lý nhất và thu phí của cả 2 bên. Nhà đầu tư có thể lựa chọn người vay hoặc có thể chia nhỏ số tiền cho nhiều món vay khác nhau.
[14] về bản chất, cho vay ngang hàng là một hoạt động tài chính hướng đến nhu cầu thực sự của thị trường vốn mà chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn không qua bên trung gian, kết nối giữa bên có vốn nhàn rỗi và bên có nhu cầu về vốn thông qua ứng dụng online hoặc kết nối trực tiếp và hưởng phí dịch vụ. Các công ty CVNH thường không phải là NĐT trực tiếp cho vay tiền, mà họ tạo ra không gian kết nối là các nền tảng CVNH cho các bên tham gia, đồng thời cung cấp các dịch vụ đơn giản hóa quá trình vay và cho vay. Khác với hoạt động kinh doanh ngân hàng truyền thống là ngân hàng đóng vai trò trung gian và quản lý các nguồn huy động vốn và các khoản cấp tín dụng. Lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu đạt được từ chênh lệch giữa lãi suất huy động thấp và lãi suất cấp tín dụng cao.
Còn trong thị trường P2P Lending, các nền tảng chỉ thu hoa hồng phí từ các bên khi một giao dịch thành công, còn mức lãi suất suất được xác định theo cơ chế của từng loại nền tảng và lợi nhuận từ lãi được chia đều cho các bên cho vay theo tỷ lệ tài trợ [26]. Bên cạnh đó, nhà cung cấp dịch vụ đóng vai trò như một nhà tư vấn tài chính: đánh giá mức độ tín nhiệm của người vay, cung cấp thông tin giải ngân, đôn đốc thu hồi nợ và đóng vai trò như một đơn vị ủy quyền của người cho vay đứng ra thu nợ. Nhìn chung, có thể hiểu cho vay ngang hàng là hoạt động dựa trên nền tảng công nghệ tài chính (P2P lending) được xây dựng trên nền tảng giao dịch trực tuyến kết nối trực tiếp giữa người đi vay và người cho vay mà không thông qua các trung gian tài chính. Toàn bộ hoạt động vay, trả nợ (gốc, lãi) giữa người đi vay và 11 người cho vay được nên tảng giao dịch trực tưyên ghi nhận và lưu trữ băng các bảng điện tử, số hoá.
Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động cho vay ngang hàng Hình thức cho vay ngang hàng xuất hiện từ đầu những năm 1700, khi tác giả Jonathan Swift người Alien của cuốn sách nối tiếng Travels Jonathan đã cho nhiều nguời vay những số tiền nhỏ khác nhau. Trong suốt thế kỷ 18 và 19, CVNH đã trở thành một trong những phương thức tín dụng được sử dụng rộng rài nhất ở châu Âu [15, tr. Mặc dù hình thức cho vay ngang hàng đã xuất hiện từ trước khi ngân hàng ra đời, tuy nhiên, do trong quá khứ yểu tố thông tin còn hạn chế nên không phải lúc nào người đi vay và người cho vay cũng có thể kết nối trực tiếp với nhau. Thế nên CVNH trở nên ít phổ biến hơn trong thế kỷ 20 vì sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, nhưng gần đây nó đã bùng nổ trở lại nhờ sự phát triển của Internet.
Ban đầu cho vay ngang hàng chỉ thực hiện trên một nhóm cá nhân nhở, vận hành trên một hệ thống đơn giản và giao dịch các khoản cho vay cơ bản được gọi là Cho vay ngang hàng vật lý (Physical peer-to-peer or person-to-person lending). Hinh thức vay mượn này được thực hiện giữa những người trong cùng một nhóm, như cùng gia đình, nhóm tôn giáo, nhóm nghề nghiệp, hoặc những người trong cùng một cộng đồng mà quen biết lẫn nhau. Mặc dù quy mô tín dụng trong cho vay ngang hàng vật lý nhở hơn rất nhiều so với hoạt động tín dụng truyền thống nhưng lại thu hút được sự quan tâm không hề nhỏ từ công chúng. Cùng với sự phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, một hình thức mới của phương thức tài trợ vốn ra đời vào năm 2005, gọi là Cho vay ngang hàng trực tuyến (Online peer-to-peer lending).
Cho vay ngang hàng trực tuyến cho phép các bên tham gia có thế khớp các yêu cầu vay và cho vay vốn thông qua một nền tảng trực tuyến (online platform) mà không cần đến sự điều hoà của một tổ chức tài chính nào. Hình thức này đã trở thành một bổ túc quan trọng trong hệ thống tài chính truyền thống và phát triển mạnh mẽ khắp thế giới trong những năm vừa qua [17]. CVNH chỉ thực sự được biết đến rộng rãi nhờ sự ra mắt của hai công ty là 12 Zopa của Anh vào năm 2005 và Prosper của Mỹ vào năm 2006 hay Yinxin vào năm 2006 ở Trung Quốc. David Nicholson - người đồng sáng lập và chù mưu của Zopa, cho biết việc hình thành mô hỉnh kinh doanh này đến từ việc hiểu quá khứ tiền ngân hàng và các nguyên tắc cơ bản của mối quan hệ người cho vay - người đi vay.
Đây là những công ty CVNH đầu tiên trên thế giới, nơi người đi vay và người cho vay không cần thông qua ngân hàng mà vẫn hoàn toàn có thể giao dịch trực tiếp với nhau thông qua một nền tảng CVNH. Ngoài ra, trong năm 2007 cũng chứng kiến sự ra đời của các nền tảng khác như PaiPaiDai, QiFang, Wokal ở Trung Quốc hay Smava ở Đức Bước ngoặt thực sự của ngành cho vay ngang hàng đến từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009. Niềm tin cùa công chúng vào các tổ chức tài chính sụp đổ.