mở đầu: Khối lượng hàng hóa tiêu thụ tăng một cách chậm chạp do chưa có nhiều người biết đến, chiến lược Marketing mix thường là: - Sản phẩm: quan tâm đến việc hiệu chỉnh kỹ thuật, thương mại sản phẩm và tăng cường kiểm tra chất lượng sản phẩm. - Giá cả: áp dụng giá chắt lọc thị trường đối với sản phẩm độc đáo chưa từng có trên thị trường. Áp dụng giá thâm nhập thị trường đối với sản phẩm phổ biến, giá khu vực cho mỗi khu vực khác nhau và có thể áp dụng giá hạ thấp nhất thời. - Phân phối: có giới hạn (độc quyền hay chọn lọc), phụ phí cao.
- Chiêu thị: giúp doanh nghiệp tạo sự hiểu biết về sản phẩm và những lợi ích của nó. Phương tiện sử dụng là bán hàng cá nhân hoặc tập mẫu ca-ta-lô, ưu tiên nhắm đến người tiêu dùng tiên phong và người khuyến khích tiêu dùng. Giai đoạn tăng trưởng: Khối lượng hàng hóa bán ra tăng lên nhanh chóng do thị trường đã chấp nhận. Marketing mix thường là: - Sản phẩm: Sản xuất hàng loạt, đa dạng hóa sản phẩm.
Tăng cường cải tiến kỹ thuật cũng như tiêu chuẩn hóa sản phẩm để dễ dàng mở rộng bán ra. - Giá cả: Theo xu hướng giảm giá nhằm mở rộng thị trường và sử dụng thang giá rộng theo các địa bàn khác nhau. - Phân phối: Giai đoạn này phân phối mở rộng và mạnh, tồn kho dự trữ lớn và nguồn tiếp tế nhanh chóng. - Xúc tiến: Sử dụng mạnh những phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo sự ưa thích cao nhất của đa số khách hàng.
Giai đoạn trưởng thành: Khối lượng hàng hóa bán ra tăng chậm vì sản phẩm đã được hầu hết khách hàng tiềm năng chấp nhận. Marketing mix thường: - Sản phẩm: phân biệt hóa sản phẩm nhằm đáp ứng với việc việc phân khúc thị trường sâu hơn bằng cách đa dạng hóa thương hiệu và kiểu dáng. - Giá cả: có sự cạnh tranh mạnh về giá vì vậy sẽ có xu hướng đi đến thỏa thuận ngầm hoặc công khai giữa những người bán này chống lại những người bán khác hoặc chống lại người mua. - Phân phối: vẫn còn mở rộng và mạnh.
14 - Chiêu thị: sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc tăng cường thuyết phục, khuyến mãi, quảng cáo nhắm đến các thị trường phân biệt nhằm củng cố lòng trung thành với thương hiệu. Giai đoạn suy thoái: khối lượng bán ra giảm xuống và nguy cơ tồn kho tăng nhanh. Marketing mix thường là: - Sản phẩm: giảm bớt các mặt hàng không còn hiệu quả - Giá cả: giảm, nhưng đôi khi tăng giá vì chi phí sẽ tăng khi khối lượng sản xuất giảm. - Phân phối: chọn lọc và chuyên môn hóa.2 Hoạt động giá Theo Kotler và cộng sự (2014), giá là tổng của toàn bộ những giá trị mà khách hàng phải trả để đạt được những lợi ích của việc sở hữu hoặc sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ.
Giá cả là yếu tố duy nhất trong Marketing mix mang lại doanh thu cho doanh nghiệp, nhưng không giống như các yếu tố khác giá cả có thể thay đổi nhanh chóng. Đây là vấn đề mà các nhà Marketing phải đối mặt nhiều nhất và doanh nghiệp cần quản lý giá tốt. Các phương pháp định giá: Định giá trên cơ sở chi phí: là phương pháp đơn giản nhất, hướng vào mục tiêu chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. Có hai cách định giá theo phương pháp này: định giá cộng chi phí và định giá theo lợi nhuận mục tiêu.
Định giá trên cơ sở giá trị khách hàng: định giá không phải theo chi phí của người bán mà dựa trên giá trị cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm. Định giá dựa trên cơ sở cạnh tranh: có 2 cách thức chính là định giá theo cạnh tranh hiện hành (chủ yếu dựa vào giá cả của các đối thủ cạnh tranh, ít chú ý vào chi phí và số cầu của doanh nghiệp mình) và định giá đấu thầu kín (chủ yếu dựa vào dự đoán cách định giá của đối thủ cạnh tranh hơn là chi phí và cầu trên thị trường). Các chiến lược định giá điển hình: 15 Chiến lược định giá cho tập hợp sản phẩm: - Định giá dòng sản phẩm: doanh nghiệp thường triển khai nhiều sản phẩm đa dạng hơn là những sản phẩm đơn lẻ. Sau đó quyết định các mức giá cho những sản phẩm khác nhau trong cùng một dòng sản phẩm.
Các mức giá đó cần tính đến những khác biệt về chi phí, những đánh giá của khách hàng về các đặc điểm khác nhau và giá cả của các đối thủ cạnh tranh. - Định giá sản phẩm tùy chọn: nhiều doanh nghiệp cung cấp những sản phẩm được xem là phần tự chọn. Định giá cho sản phẩm tùy chọn là vấn đề khá khó. Các doanh nghiệp phải xác định sản phẩm nào là chính, sản phẩm nào là tự chọn và quyết định giá cho phần đó.
- Định giá sản phẩm bổ sung: các doanh nghiệp trong những ngành kinh doanh nào đó sản xuất các sản phẩm phải được dùng với sản phẩm chính yếu khác sẽ sử dụng chiến lược định giá này. Chiến lược điều chỉnh giá: - Định giá chiết khấu và các khoản giảm giá: phần lớn các doanh nghiệp sẽ điều chỉnh giá căn bản của họ để thưởng cho một số việc làm của khách hàng như thanh toán sớm hóa đơn, mua số lượng lớn hay mua ngoài mùa vụ… - Định giá phân biệt: nhiều doanh nghiệp thường hay điều chỉnh giá căn bản cho phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng loại sản phẩm và từng khu vực tiêu thụ… - Định giá tâm lý: Giá cả thường phản ánh chất lượng sản phẩm, có nhiều khách hàng dùng giá cả như một chỉ báo chất lượng sản phẩm. Khi áp dụng chính sách giá tâm lý doanh nghiệp cần xem xét yếu tố tâm lý của giá cả chứ không đơn thuần về khía cạnh kinh tế. Chiến lược thay đổi giá: - Chủ động cắt giá: để đối phó những trường hợp nhà máy còn dư thừa công suất hoạt động hay quá thừa năng lực, cầu sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường bị giảm; hoặc khi doanh nghiệp định hướng muốn thống lĩnh thị trường bằng giá thấp.
16 - Chủ động tăng giá: việc tăng giá có thể xuất phát từ sự gia tăng chi phí diễn ra dai dẳng có tính toàn cầu hoặc do số cầu quá lớn. Việc này ảnh hưởng không tốt cho việc bán hàng nhưng nếu tăng giá thành công có thể gia tăng lợi nhuận một cách đáng kể. Chiến lược định giá sản phẩm mới: - Định giá thâm nhập thị trường: Doanh nghiệp định giá sản phẩm tương đối thấp và hy vọng sẽ thu hút được một lượng khách mua đủ lớn và đạt được một thị phần lớn. - Định giá nhằm chắt lọc thị trường: Doanh nghiệp sẽ định giá cao ngay từ đầu cho sản phẩm mới để “chớp” thị trường.
Sau khi lượng tiêu thụ chậm lại, doanh nghiệp mới hạ giá sản phẩm xuống để lôi kéo lớp khách hàng kế tiếp vốn nhạy cảm với giá cả.3 Hoạt động phân phối Đinh Tiên Minh và cộng sự (2014) cho rằng vai trò của phân phối trong Marketing mix là đưa sản phẩm đến thị trường mục tiêu. Những quyết định phân phối có ảnh hưởng đến các quyết định khác của Marketing. Điển hình như một quyết định về giá của công ty phụ thuộc vào việc họ sử dụng nhiều hay ít trung gian phân phối hay vào quy mô của các cửa hàng. Chính vì thế, sự lựa chọn hệ thống phân phối là một trong nhửng quyết định quan trọng nhất của công ty.
Tuy nhiên, những mối quan hệ chặt chẽ giữa các trung gian cần có thời gian để phát triển. Nếu giữa các thành viên có những ràng buộc chặt chẽ thì doanh nghiệp mới sẽ gặp nhiều khó khăn khi xâm nhập. Khi đã xây dựng được những liên minh trong phân phối, sản phẩm mới sẽ dễ dàng tung ra thị trường. Những thành viên phân phối cần hoạt động trong sự hợp tác.
Và những nhà phân phối mạnh sẽ tăng cường khả năng Marketing của công ty. Vì vậy, chiến lược phân phối hợp lý, thuận tiện cho người mua sẽ góp phần làm cho sản phẩm lưu thông một cách thông suốt, nhanh chóng và dễ xâm nhập thị trường (Đinh Tiên Minh và cộng sự, 2014). 17 Một doanh nghiệp thực hiện tất cả các chức năng phân phối sẽ phải trang trải hết các khoản chi phí nhưng đổi lại họ sẽ thu hết phần lợi nhuận. Khi doanh nghiệp sử dụng trung gian để giảm chi phí phân phối thì lợi nhuận cũng giảm vì trung gian cũng phải hưởng phần đóng góp của họ (Đinh Tiên Minh và cộng sự, 2014).
Khi sử dụng trung gian, tổng lợi nhuận của công ty có thể tăng nếu mức bán của trung gian vượt cao hơn mức bán do công ty tự phân phối. Tuy nhiên, sử dụng quá nhiều trung gian sẽ làm nhà sản xuất giảm hẳn những mối liên hệ với người tiêu dùng và đồng thời phải tăng cường giám sát kênh phân phối (Đinh Tiên Minh và cộng sự, 2014). Cấu trúc kênh phân phối Một kênh phân phối có thể đơn giản hoặc phức tạp. Kênh phân phối có nhiều kiểu cấu trúc khác nhau.
Tuy nhiên, nhìn chung có thể đưa về hai là kênh phân phối sản phẩm tiêu dùng, kênh phân phối sản phẩm công nghiệp. Kênh phân phối sản phẩm tiêu dùng: thường phức tạp và phong phú. Tùy theo từng loại sản phẩm, từng thị trường, từng doanh nghiệp mà số lượng kênh và cấu trúc kênh cũng khác nhau. Tuy nhiên, những cấu trúc khác nhau đó đều dựa trên những kênh cơ bản sau: NHÀ SẢN XUẤT Đại lý Nhà bán buôn nhỏ Nhà bán buôn nhỏ NHÀ BÁN LẺ NGƯỜI TIÊU DÙNG Hình 1.
2 Cấu trúc kênh phân phối sản phẩm tiêu dùng 18 Theo đó: Kênh không có trung gia gọi là kênh trực tiếp hay kênh không cấp. Kênh có trung gian gọi là kênh gián tiếp bao gồm các kênh có từ một đến ba cấp trung gian. Kênh ba cấp thường được áp dụng trong công nghiệp thịt đóng hộp, ở đó nhà bán buôn bán hàng cho các nhà bán buôn nhỏ và những người này tiếp tục bán cho các nhà bán lẻ. Kênh trực tiếp hay kênh có một trung gian được xem là kênh ngắn.
Kênh có từ hai trung gian trở lên là kênh dài. Chiến lược phân phối Chiến lược phân phối rộng rãi: các nhà sản xuất hàng tiêu dùng và các loại nguyên liệu vẫn dùng cách phân phối này, khi đó lượng hàng dự trữ của họ càng nhiều ở cửa hàng càng tốt. Những loại hàng này phải tiện lợi cho việc lưu giữ tương đối lâu (Đinh Tiên Minh và cộng sự, 2014).