MỞ ĐẦU 1. Tổng quan nghiên cứu Phần này sẽ trình bày về xu hướng nghiên cứu về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trên thế giới và ở Việt Nam. Dựa trên các kết quả nghiên cứu đó, khoảng trống nghiên cứu sẽ được xác định làm định hướng cho nội dung nghiên cứu của luận án. Các nghiên cứu về kế toán thuế TNDN chủ yếu tập trung vào ba quan điểm nghiên cứu chính: (i) Mối quan hệ giữa kế toán và thuế TNDN (ii) Thuế và Kế toán thuế TNDN.
(iii) Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN. Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa kế toán và thuế thu nhập doanh nghiệp Aisbit (2002), đã chỉ ra rằng thuế và kế toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mục tiêu của thuế TNDN là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện mục tiêu quản lý vĩ mô nền kinh tế, trong khi mục tiêu của kế toán là cung cấp thông tin hữu ích về tình hình tài chính của doanh nghiệp phục vụ cho việc ra quyết định của đối tượng sử dụng thông tin. Chính vì vậy, mối quan hệ chặt chẽ giữa kế toán và thuế sẽ dẫn đến khó khăn trong việc cung cấp thông tin hữu ích trên báo cáo tài chính (BCTC).
Tiếp tục vấn đề nghiên cứu của Aisbit (2002), Speake (2011) đã khẳng định rằng các quy định của luật thuế chỉ dùng để tính toán thuế TNDN phải nộp. Phương pháp nghiên cứu của Aisbit (2002) và Speake (2011) là dựa trên cơ sở lý thuyết, những quy định về kế toán và thuế để phân tích, đánh giá và đưa ra quan điểm cá nhân về mối quan hệ giữa kế toán và thuế nhằm gợi mở hướng nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu kế toán và các đơn vị có trách nhiệm xây dựng chuẩn mực, chế độ kế toán, các doanh nghiệp, người làm kế toán hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa kế toán và thuế. Nghiên cứu không đề cập đến các biện pháp kỹ thuật làm thế nào để cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC khi kế toán và thuế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. 2 Mai Ngọc Anh (2014) trong nghiên cứu về "Mối quan hệ giữa khuôn khổ quy định về kế toán và chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp" đã nghiên cứu tổng quan về khuôn khổ quy định về kế toán và chính sách thuế TNDN, các nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ này, đồng thời đánh giá ưu nhược điểm của quan điểm liên kết và quan điểm có sự độc lập tương đối giữa các quy định của chính sách thuế và hệ thống kế toán.
Nghiên cứu không đặt trọng tâm vào hoàn thiện kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC phục vụ cho các cổ đông và nhà đầu tư mà tập trung hướng tới những giải pháp vĩ mô trong việc hoàn thiện khuôn khổ quy định về kế toán Việt Nam trong mối quan hệ với chính sách thuế TNDN. Ngoài các nghiên cứu trên, có rất nhiều các nghiên cứu khác về mối quan hệ giữa kế toán và thuế TNDN như nghiên cứu của Radcliffe (1993); Hoogendoorm (1996); James (2009); Napoca (2014); Cuzdriorean (2010); Aisbit (2002); Logan (2011); Freedman (2004). Hầu hết các nghiên cứu này đều thừa nhận mối quan hệ phức tạp giữa kế toán và thuế, mối quan hệ phức tạp này này làm ảnh hưởng đến tính hữu ích của thông tin cung cấp trên BCTC. Xu hướng chung của các nghiên cứu đều hướng đến sự độc lập tương đối giữa kế toán và thuế.
Các nghiên cứu đều dựa trên cơ sở lý thuyết, xu hướng phát triển của nền kinh tế để đưa ra nhận định về mối quan hệ này phục vụ chủ yếu cho việc nghiên cứu, xây dựng chuẩn mực kế toán thuế TNDN. Các công trình nghiên cứu về thuế thu nhập doanh nghiệp và kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp Carey (1944) đã lý giải việc ghi nhận khoản thuế TNDN là một khoản chi phí hay là một khoản lợi nhuận được phân phối? Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc ghi nhận thuế TNDN như là một khoản nợ phải trả sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên BCTC tùy thuộc vào các quan điểm lý thuyết và loại hình kế toán nhưng chưa đưa ra quan điểm nên ghi nhận thuế TNDN là một khoản chi phí hay phân phối lợi nhuận để cung cấp thông tin hữu ích nhất về thuế TNDN trên BCTC. Tiếp tục nghiên cứu vấn đề Carey (1944) đã đưa ra. Nurnber (1971) cho rằng, việc ghi nhận và xem xét các loại thuế TNDN như một khoản chi phí là phù hợp với lý thuyết độc quyền, còn ghi nhận nó là một 3 khoản phân phối thu nhập sẽ phù hợp với lý thuyết thực thể.
So với Carey (1944), Nurnber (1971) đã có phân tích, luận giải cụ thể và sát thực hơn trong việc ghi nhận thuế TNDN. Ông cho rằng, lý thuyết độc quyền sẽ phát triển mạnh trong xu thế phát triển kinh tế. Vì vậy, việc ghi nhận thuế TNDN là một khoản chi phí sẽ phù hợp hơn trong tương lai. Phương pháp nghiên cứu của Carey (1944) và Nurnber (1971) là vận dụng các quan điểm lý thuyết kế toán trong việc ghi nhận thuế TNDN hiện hành, không đề cập đến việc ghi nhận thuế TNDN là một khoản chi phí sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các chỉ tiêu liên quan trên BCTC cũng như các phương pháp kế toán ghi nhận thuế TNDN hoãn lại trong việc xử lý mối quan hệ phức tạp giữa mục tiêu của kế toán và chính sách thuế nhằm cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin.
Cả hai nghiên cứu đều hướng đến mục tiêu phục vụ cho đối tượng là các nhà lập pháp trong việc xây dựng chuẩn mực kế toán và các nhà nghiên cứu về kế toán, chưa đặt trọng tâm hoàn thiện công tác kế toán thuế TNDN trong doanh nghiệp cụ thể. Buckwold (2000), đã làm rõ cách xác định thu nhập và thuế TNDN cho hai thực thể chính là doanh nghiệp và người lao động, nghiên cứu đã đánh giá được ảnh hưởng của cơ cấu doanh nghiệp, hình thức tổ chức kinh doanh trong doanh nghiệp đến phương pháp xác định thuế, những khoản thu nhập và chi phí phát sinh trong việc xử lý tài sản, tăng giảm vốn khi xác định nghĩa vụ thuế. Nghiên cứu đã làm rõ được bản chất của thuế TNDN, các nhân tố ảnh hưởng đến thuế TNDN và tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược về thuế. Phương pháp nghiên cứu của ông là dựa trên cơ sở lý thuyết về thuế, chính sách thuế của quốc gia và thực tế việc xác định thuế TNDN của một số doanh nghiệp và người lao động để đánh giá và đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong việc xác định thuế TNDN.
Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra phương pháp xây dựng chiến lược về thuế cho doanh nghiệp, chưa đề cập đến việc ghi nhận thuế TNDN hiện hành, việc xác định và ghi nhận thuế TNDN hoãn lại cũng như việc cung cấp các thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC. Doehring (2011) đã làm rõ bản chất của thuế TNDN hoãn lại và vai trò của thuế TNDN hoãn lại trong việc ra quyết định quản lý và giám sát tình hình hoạt 4 động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mục tiêu của nghiên cứu là dựa trên cơ sở lý thuyết, thực trạng vai trò của thuế TNDN đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm tập trung làm rõ tác động của thuế TNDN hoãn lại đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC, nghiên cứu không trực tiếp giải quyết những vấn đề kỹ thuật trong việc xác định, ghi nhận và trình bày thuế TNDN hoãn lại trên BCTC làm cho thông tin về thuế TNDN trên BCTC hữu ích hơn đối với người sử dụng. Kieso, Weygandt, Warfield (2015) đã phân tích một cách sâu sắc ảnh hưởng của thuế TNDN đến thông tin cung cấp trên BCTC, nghiên cứu đã làm rõ chênh lệch tạm thời tạo ra tài sản thuế TNDN hoãn lại và thuế TNDN hoãn lại phải trả, thời điểm và mức phân bổ tài sản thuế TNDN hoãn lại và thuế TNDN hoãn lại phải trả trong kỳ tính thuế.
Nghiên cứu cũng giải thích tại sao sự khác biệt vĩnh viễn không dẫn đến thuế hoãn lại, giải thích việc trình bày các thông tin về thuế TNDN hoãn lại phải trả và tài sản thuế TNDN hoãn lại được phân loại và trình bày trên BCTC. So với nghiên cứu của Buckwold (2000), nghiên cứu này đã có những bước tiến mới trong việc làm rõ cơ sở xác định thuế TNDN hiện hành và hoãn lại và chú trọng hơn đến việc trình bày thông tin về thuế TNDN trên BCTC. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ hơn các nội dung được quy định tại IAS12, chưa đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN, chưa đưa ra được hệ thống các giải pháp cho doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin. Tại Việt nam, các công trình nghiên cứu về kế toán thuế TNDN ở Việt Nam cũng tập trung chủ yếu vào nghiên cứu về mối quan hệ giữa kế toán và thuế, những bất cập trong việc vận dụng VAS 17 vào thực tiễn, phân tích, đề xuất các giải pháp giúp doanh nghiệp vận dụng và thực hiện VAS 17.
Nguyễn Tuấn Duy (2006) đã nghiên cứu và phân tích kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp thương mại Việt Nam. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống trên cơ sở phân tích cơ sở lý thuyết về thuế TNDN, kế toán thuế TNDN, thực trạng kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp thương 5 mại, đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán thuế TNDN gắn với đặc thù hoạt động của các doanh nghiệp thương mại, giải pháp nghiên cứu đưa ra tập trung chủ yếu vào các giải pháp vĩ mô nhằm hoàn thiện chính sách, chế độ chưa chú trọng nhiều đến những giải pháp cụ thể cho doanh nghiệp thực hiện nhằm cung cấp thông tin hữu ích hơn về thuế TNDN trên BCTC trên cơ sở tác động đến những nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN trong doanh nghiệp. Phan Thị Anh Đào (2011), sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống trên cơ sở khái quát lý luận chung về kế toán thuế TNDN tại các doanh nghiệp, thực trạng kế toán thuế TNDN tại các doanh nghiệp hàng hải và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán thuế TNDN mà trọng tâm hướng tới giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn và thực hiện tốt kế toán thuế TNDN theo VAS 17 và IAS 12.