CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN KẾ HOẠCH HOÁ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Khái niệm kế hoạch hoá nguồn nhân lực Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, kế hoạch hoá nguồn nhân lực trong tổ chức cũng có những cách hiểu khác nhau: - Kế hoạch hoá nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định ước tính xem cần bao nhiêu người có trình độ lành nghề thích ứng để thực hiện các nhiệm vụ đã đặt ra (Cầu nhân lực); cũng như khả năng cung ứng nhân lực cho doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu công việc của doanh nghiệp để giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu sản xuất kinh doanh (Cung nhân lực); Lựa chọn các giải pháp để cân đối cầu và cung nhân lực của tổ chức tại thời điểm thích ứng trong tương lai. - Kế hoạch hoá nguồn nhân lực là quá trình xây dựng các chiến lược nguồn nhân lực và thiết lập các chương trình hoặc các chiến thuật để thực hiện các chiến lược nguồn nhân lực đó.
Do đó, vai trò của kế hoạch hoá nguồn nhân lực là giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu công việc. - Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả ThS Nguyễn Văn Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, xuất bản năm 2007: “Kế hoạch hoá nguồn nhân lực là quá trình đánh giá, xác định nhu cầu về nguồn nhân lực để đáp ứng mục tiêu công việc của tổ chức và xây dựng các kế hoạch lao động để đáp ứng được các nhu cầu đó1”. Để thống nhất trong toàn bộ Luận văn, tác giả hiểu Công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực chính là các hoạt động, các việc làm, các bước thực hiện để đánh 1 : Trang 62, Giáo trình Quản trị Nhân lực, Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007), Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội -7- giá thực trạng nguồn nhân lực, xác định nhu cầu về nguồn nhân lực để đáp ứng mục tiêu công việc; đề ra các chương trình, kế hoạch hoạt động, tổ chức thực hiện để đáp ứng được các nhu cầu nhân lực và sau cùng là kiểm tra đánh giá hiệu quả của các chương trình đó. Phân loại kế hoạch nguồn nhân lực Tuỳ theo góc độ nghiên cứu khác nhau, kế hoạch hóa nguồn nhân lực được phân loại khác nhau, nhưng nhìn chung được phân loại theo thời gian, không gian và tính chất.
a) Phân loại theo thời gian - Kế hoạch nguồn nhân lực dài hạn: đưa ra các chính sách, chương trình kế hoạch nhân lực nhằm đáp ứng các mục tiêu dài hạn của tổ chức, thường từ 5 năm trở lên. Để đạt được các mục đích và mục tiêu đề ra, tổ chức không chỉ dựa trên các yếu tố nội bộ của mình mà còn phải dựa trên những yếu tố khách quan: môi trường xã hội, đặc biệt là chiến lược phát triển về nguồn nhân lực của Nhà nước; sự phát triển các ngành nghề/lĩnh vực; cũng như những biến động về tâm sinh lý của con người… - Kế hoạch nguồn nhân lực trung hạn: chính là sự cụ thể hoá kế hoạch dài hạn thành những khoảng thời gian ngắn hơn, thường từ 2 đến 3 năm, trong đó xác đinh cần bao nhiêu nhân lực cho mỗi loại công việc cụ thể để đạt được các mục tiêu của sản xuất kinh doanh; số lao động thuyên chuyển cũng cần được dự báo để xác định tỷ lệ thiếu hụt lực lượng lao động; những thay đổi về năng suất lao động cũng cần được xem xét vì nó sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu nhân lực của tổ chức. - Kế hoạch nguồn nhân lực ngắn hạn: mang tính cụ thể và chi tiết hơn so với kế hoạch dài hạn và trung hạn, thường là 1 năm. Kế hoạch nhân lực ngắn hạn xác định số lượng lao động cần thiết với trình độ đào tạo, kỹ năng, kỹ xảo, cơ cấu.để thực hiện các công việc để đạt mục tiêu sản xuất kinh doanh cụ thể của tổ chức.
Các kế hoạch ngắn hạn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động hàng ngày của tổ chức và hướng tới các mục tiêu dài hạn của tổ chức. Mặc dù, kế hoạch dài hạn đã -8- chỉ rõ định hướng của tổ chức, nhưng chúng chỉ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của tổ chức một khi nó được chuyển dịch thành các kế hoạch ngắn hạn. b) Phân loại theo không gian - Vĩ mô: bao gồm các quyết định về cung, cầu lao động cũng như các giải pháp đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động trên phạm vi quốc gia để thực hiện các mục tiêu và mục đích phát triển trong thời kỳ kế hoạch. - Kế hoạch nguồn nhân lực trung mô diễn ra trong các Bộ, Ngành, các địa phương theo vùng lãnh thổ.
- Kế hoạch nguồn nhân lực vi mô bao gồm các quyết định bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu đề ra của tổ chức, doanh nghiệp. c) Theo tính chất - Kế hoạch hoá nguồn nhân lực trực tiếp là phương pháp kế hoạch của nền kinh tế tập trung, mệnh lệnh chỉ huy, trong đó có các mục tiêu kế hoạch nguồn nhân lực được xây dựng một cách chi tiết, ổn định lâu dài và các nguồn lực cân đối khá tỷ mỷ nhằm đạt được mục tiêu đề ra ban đầu. - Kế hoạch hoá nguồn nhân lực định hướng đề cao tính linh hoạt, chủ động trong việc bố trí nguồn lực và cả mục tiêu về nguồn nhân lực đề ra. Đó là sự xem xét liên tục giữa mục tiêu và nguồn lực nhằm sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực đầu vào và tối ưu hoá các mục tiêu đề ra.
Các yếu tố tác động tới kế hoạch hoá nguồn nhân lực Trên thực tế, không phải lúc nào cũng có kế hoạch hoá nguồn nhân lực tốt, hay nói cách khác, được thực hiện theo một quy trình và trên các điều kiện hoàn hảo. Một kế hoạch nguồn nhân lực tốt phụ thuộc vào các yếu tố sau: 1. Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài - Các bước ngoặt của nền kinh tế có thể ảnh hưởng tới nhu cầu về nhân lực: Trong giai đoạn nền kinh tế phát triển, nhu cầu nhân lực có thể tăng lên và ngược lại trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái, nhu cầu nhân lực có thể giảm. - Những thay đổi về chính trị hay pháp luật có thể ảnh hưởng một cách trực tiếp và mạnh mẽ đến tình hình hoạt động kinh doanh của tổ chức, từ đó ảnh hưởng -9- đến nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của tổ chức.
Việc Pháp luật lao động quy định thời gian làm việc tối đa trong ngày, tuần ảnh hưởng đến việc bố trí, sử dụng nhân lực của tổ chức. Hoặc trong trường hợp Chính phủ quy định mức tiền công, tiền lương tối thiểu chung ảnh hưởng đến sự cân đối nhân sự trong khả năng tài chính cho phép của tổ chức để đảm bảo rằng tổ chức kinh doanh có lãi. - Sức ép của cạnh tranh toàn cầu sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu tương lai của tổ chức về nhân lực: Giảm quy mô và thiết kế lại công việc là những biện pháp thông thường được sử dụng để giảm giá thành sản phẩm. - Thị trường lao động và địa bàn hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp: thị trường lao động là nơi cung cấp nguồn nhân lực bên ngoài cho tổ chức với những trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm.
Dựa vào đó, tổ chức xây dựng các chương trình thu hút, tuyển dụng lao động phù hợp với nhu cầu nhân lực cũng như khả năng tài chính của tổ chức. Bên cạnh đó, địa bàn hoạt động của tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hút, tuyển dụng người lao động. Người lao động có xu hướng tìm kiếm những công việc phù hợp với mình ở các thành phố lớn, những nơi trung tâm có các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội thuận lợi. Vì vậy, cùng với một mức tiền lương như nhau, các tổ chức ở xa trung tâm thường khó tìm kiếm được các ứng viên hơn các doanh nghiệp ở gần trung tâm.
Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường bên trong - Nhận thức về bản chất và vai trò của công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực: Kế hoạch hoá nguồn nhân lực sẽ có vị trí quan trọng nếu như có sự nhận thức của những người đứng đầu, những người làm công tác hoạch định nguồn nhân lực về sự cần thiết và vai trò đối với sự phát triển của tổ chức. Kế hoạch hoá nguồn nhân lực sẽ mất tác dụng nếu kế hoạch đạt ra không có mục tiêu hoặc mục tiêu không rõ ràng, chỉ được xây dựng một cách hình thức, chắp vá, không có điều kiện thực hiện. - Nguồn lực đầu vào: + Thông tin về tình hình thực hiện kế hoạch nguồn nhân lực, các bài học rút ra trong quá khứ, cũng như các thông tin về tương lai là các đầu vào rất quan trong. - 10 - Thực tế cho thấy, không có kế hoạch nguồn nhân lực tốt nếu không có giai đoạn đánh giá tình hình, phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, đánh giá các thành công, thất bại trong qua trình vừa qua.
+ Dự báo những xu hướng tương lai càng chính xác nếu có các thông tin chính xác và cũng là điều kiện để các kế hoạch có tính khả thi cao. + Vai trò của đội ngũ làm công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực. Các cán bộ làm về công tác kế hoạch nguồn nhân lực cần phải có kỹ năng và năng lực xây dựng kế hoạch. Đặc biệt trong điều kiện ngày nay, cần phải có kỹ năng sử dụng các công cụ kinh tế lượng, các mô hình kinh tế để phân tích và dự báo các mối quan hệ tương quan giữa các bộ phận của tổ chức, các bộ phận của kế hoạch.
- Các mục tiêu kinh doanh chiến lược của tổ chức: Các mục tiêu ngắn hạn, dài hạn trong sản xuất kinh doanh, các vấn đề về ngân sách của tổ chức sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu tương lai của tổ chức về nhân lực. Điều này cho thấy sự tăng lên của mục tiêu kinh doanh theo dự đoán sẽ làm tăng nhu cầu nhân lực, trong khi sự suy giảm mục tiêu kinh doanh sẽ làm giảm nhu cầu nhân lực. - Nhu cầu tương lai của tổ chức về nhân lực sẽ thay đổi khi sản phẩm và dịch vụ hướng về chu kỳ tồn tại của sản phẩm. Ví dụ sản phẩm trong chu kỳ phát triển hay bão hòa nhu cầu nhân lực sẽ tăng lên, ngược lại khi sản phẩm trong giai đoạn suy thoái nhu cầu về nhân lực sẽ suy giảm.